- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án"
- Căn cứ chính? Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:83/2017/HNGĐ-ST Ngày 29-9-2017 Vụ án “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Trúc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Ngọc Thương
Ông Nguyễn Văn Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hiên – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2017, tại Trụ sở Toà án nhân dân TP.Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 795/2017/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2017 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2017/QĐXX-ST ngày 29 tháng 8 năm 2017 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Ngọc Th – sinh năm 1988; trú tại số 47 đường N, phường L, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (Có mặt).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Quang L – sinh năm 1986; HKTT tại số 56 (số cũ 79) đường N, phường L, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (Vắng mặt lần 2 không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 20 tháng 7 năm 2017 cùng các lời khai tiếp theo chị Thtrình bày:
Chị Lê Ngọc Th và anh Nguyễn Quang L sống chung từ năm 2013, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Cuộc sống chung năm đầu hạnh phúc và sinh được 01 người con chung Nguyễn Quang V, sinh ngày 10-9-2014. Thời gian 3 năm trở lại đây vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh L không lo làm ăn mà ham chơi, tụ tập bạn bè thường xuyên vắng nhà, cờ bạc, rượu chè và gây thiếu nợ về cho gia đình. Chị Thđã góp ý động viên để anh L thay đổi cách sống nhưng không đạt kết quả. Tại phiên tòa hôm nay, chị Thxác nhận tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung giữa chị với anh L không cải thiện nên chị Thyêu cầu được ly hôn.
- Về con chung: có 01 con chung Nguyễn Quang V, sinh ngày 10-9-2014. Chị Thyêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh L cấp dưỡng.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Thkhông yêu cầu Tòa án giải quyết.
Từ khi Toà án thụ lý vụ án, đã nhiều lần triệu tập anh L đến Toà giải quyết ly hôn nhưng anh L vắng mă ̣t không có lý do nên không xác định rõ yêu cầu.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: quá trình thụ lý, thu thập chứng cứ và hòa giải Thẩm phán và nguyên đơn tuân theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t . Bị đơn không tuân theo quy định của pháp luật.
Tại phiên xét xử , Hô ̣i đồng xét xử , thư ký và nguyên đơn tuân theo quy đi ̣nh của pháp luật. Đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: chị Lê Ngọc Th yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Quang L nên xác định quan hệ tranh chấp là Ly hôn, anh L hiện cư trú tại thành phố Vũng Tàu. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu.
Anh Nguyễn Quang L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh L.
Về nội dung: Chị Lê Ngọc Th và anh Nguyễn Quang L tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2013, đăng ký kết hôn ta ̣i UBND phường L, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu nên hôn nhân giữa chị Thvà anh L là hôn nhân hợp pháp. Theo chị Thcuộc sống chung của vợ chồng ban đầu hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh L không lo làm ăn mà ham chơi, tụ tập bạn bè thường xuyên vắng nhà, cờ bạc, rượu chè và gây thiếu nợ về cho gia đình. Nay chị Thxác nhận không còn tình cảm đối với anh L, yêu cầu được ly hôn.
Qua thu thập chứng cứ thể hiện, sau khi cưới chị Thvề làm dâu bên chồng, sống tại nhà chồng số 56 đường N, phường L, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn, chị Thđã đưa con về nhà mẹ đẻ, không còn chung sống với anh L nữa. Xét thấy hôn nhân của chị Thvà anh L lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 2 Điều 19, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên yêu cầu ly hôn của chị Thđối với anh L là có căn cứ.
Về con chung: có 01 con Nguyễn Quang V, sinh ngày 10-9-2014. Chị Thyêu cầu được nuôi con. Xét yêu cầu nuôi con của chị Ththì thấy, từ sau khi sống ly thân đến nay chị Thlà người trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung, để không làm xáo trộn cuộc sống của trẻ thơ nên giao con cho chị Thtiếp tục nuôi dưỡng. Chị Thkhông yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Thkhông yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 19, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Ngọc Th đối với anh Nguyễn Quang L.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Ngọc Th được ly hôn anh Nguyễn Quang L.
- Về con chung: giao con Nguyễn Quang V, sinh ngày 10-9-2014 cho chị Thtiếp tục nuôi dưỡng. Chị Thkhông yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; anh L có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Thkhông yêu cầu Toà án giải quyết.
2- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Lê Ngọc Th nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007174 ngày 04-8-2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu. Chị Thđã nộp xong án phí.
3- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo tính từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết công khai.
̀
̉
TM. HỘI ĐÔNG XÉ T XỬ SƠ THÂM
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh BR-VT ; - Viện kiểm sát nhân dân TP. Vũng Tàu; - Chi cục thi hành án dân sự TP. Vũng Tàu; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Võ Thị Thanh Trúc |