- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 83/2017/HN-ST Ngày: 20-12-2017 V/v “Hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Duyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Phương Tích
2. Trịnh Thị Hồng Thắm
- Thư ký phiên tòa: Bà Giả Huệ Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Tri – Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Chúc– Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 12 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 458/2017/TLST-HN ngày 09/10/2017 về việc “H n nhân v ia nh” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2017/QĐST - HN ngày 05 tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự:
1. N uyên ơn: Chị Trương Thị Ngọc G sinh năm 1986; địa chỉ ấp M, xã M, huyện C, tỉnh T (có mặt).
2. Bị ơn: Anh Nguyễn Hữu T (T), sinh năm 1985; địa chỉ ấp A, xã V, huyện B, tỉnh B (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo ñôn khôûi kieän ngaøy 02/10/2017 và trong quá tr nh tố tụn , nguyeân ñôn chị Trươn Thị N ọc G trình baøy:
Chị và anh T tự nguyện kết hôn vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M vào ngày 09/12/2015. Sau khi kết hôn, hai bên chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm nên ly thân từ tháng 06/2017 đến nay. Trong thời gian ly thân, anh T có yêu cầu chị trở về chung sống nhưng chị không đồng ý. Nay nhận thấy tình cảm hai bên không còn, mâu thuẫn là trầm trọng, không thể tiếp tục sống chung với nhau nên chị yêu cầu ly hôn với anh T. Con chung Nguyễn Trương Trường A sinh ngày 16/7/2016 hiện sống chung với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung, tự nguyện không yêu cầu anh Thạnh cấp dưỡng. Tài sản chung, nợ chung không có.
Tại phiên tòa:
- Chị Trương Thị Ngọc G giữ nguyên trình bày, yêu cầu ly hôn với anh T, yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung, tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung, nợ chung không có.
- Anh Nguyễn Hữu T trình bày: Anh và chị G tự nguyện kết hôn vào năm 2015, trên cơ sở mai mối của người thân. Sau khi kết hôn, hai bên sống cùng gia đình anh tại ấp A, xã V, huyện B. Trong quá trình chung sống, do anh nghiện cờ bạc và bệnh động kinh nên hai bên có phát sinh mâu thuẫn. Đầu năm 2017, chị G tự ý đưa con về nhà cha mẹ ruột sinh sống tại ấp M, xã M, huyện C, tỉnh T. Mặc dù hiện nay mâu thuẫn giữa vợ - chồng, giữa vợ - gia đình chồng, giữa chồng – gia đình vợ, giữa hai bên gia đình là trầm trọng, khó có khả năng hàn gắn nhưng anh vẫn không đồng ý ly hôn. Nếu chị G vẫn yêu cầu ly hôn, anh yêu cầu được nuôi con. Nợ chung không có. Tài sản chung, hiện không tranh chấp, khi có nhu cầu anh sẽ khởi kiện sau bằng một vụ án khác.
Quan điểm của Viện kiểm sát:
- Về thủ tục: Xét thấy trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật và chấp hành nghiêm nội quy phiên tòa. Riêng bị đơn mặc dù đã được tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại các phiên hòa giải. Thành viên Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư, khách quan, độc lập khi xét xử. Vụ án được đưa ra xét xử là đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Chị G và anh T kết hôn vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M (C – G) vào ngày 09/12/2015 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Do phát sinh mâu thuẫn nên hai bên sống ly thân từ tháng 6/2017 đến nay. Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, chị G vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn. Xét mâu thuẫn giữa hai bên là trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn. Do đó, áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị G. Nợ chung không có. Tài sản chung hiện không tranh chấp nên không đặt vấn đề xem xét.
Töø caùc lôøi trình baøy treân
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, qua kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ hôn nhân: Do chị G và anh T tự nguyện kết hôn từ năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M (C – T) vào ngày 09/12/2015 nên quan hệ hôn nhân giữa hai bên là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, do hai bên bất đồng quan điểm nên phát sinh mâu thuẫn dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc và ly thân từ tháng 06/2017 đến nay. Trong thời gian ly thân, do hai bên không thể hòa giải, khắc phục những bất đồng nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và không còn khả năng hàn gắn. Trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa, chị G vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn. Xét yêu cầu trên là phù hợp với quy định tại các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận
Veà con chung: Nguyễn Trương Trường A sinh ngày 16/7/2016 đang ở với chị G. Tại phiên tòa, hai bên tranh chấp yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, do tính đến thời điểm xét xử con chung chưa tròn ba tuổi; từ khi ly thân đến nay, cháu A vẫn do chị G nuôi dưỡng, cuộc sống đã ổn định nên xét yêu cầu trực tiếp nuôi con của chị G là có cơ sở, phù hợp với quy định pháp luật tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Ghi nhận việc chị G tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Hiện hai bên không tranh chấp. Khi có nhu cầu, hai bên có quyền khởi kiện sau bằng một vụ án khác.
Về nợ chung: Không có.
Về án phí hôn nhân và gia đình sô thaåm: Chị G phải nộp theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy ñònh veà mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng aùn phí và leä phí Toaø aùn.
V các lẽ trên,
QUYEÁT ÑÒNH
Áp dụng các điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy ñònh veà mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng aùn phí và leä phí Toaø aùn.
1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị Ngọc G đối với anh Nguyễn Hữu T.
2. Con chung: Chị Trương Thị Ngọc G có quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trương Trường A sinh ngày 16/7/2016. Ghi nhận chị G tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh T có quyền thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở. Khi có nhu cầu, vì lợi ích của con, hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Taøi saûn chung: Hiện hai bên không tranh chấp. Khi có nhu cầu, hai bên có quyền khởi kiện sau bằng một vụ án khác.
4. Nợ chung: Không có.
5. Án phí hôn nhân và gia đình sô thaåm: Chị Trương Thị Ngọc G phải nộp số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) và ñöôïc khấu trừ vaøo số tiền tạm öùng aùn phí ñaõ nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo bieân lai thu số 0012333 ngaøy 02/10/2017 cuûa Chi cục Thi haønh aùn daân söï huyeän Ba Tri. Do đó, án phí sơ thẩm, chị G đã nộp xong.
Trường hợp baûn aùn, quyết ñịnh ñược thi haønh theo quy ñịnh tại Điều 2 Luật Thi haønh aùn daân sự thì người ñược thi haønh aùn daân söï, người phải thi haønh aùn daân söï coù quyền thỏa thuận thi haønh aùn, quyền yeâu cầu thi haønh aùn, tự nguyện thi haønh aùn hoặc bị cưỡng chế thi haønh aùn theo quy ñònh tại caùc ñieàu 6, 7, 7a, 7b vaø 9 Luật Thi haønh aùn daân sự; thời hiệu thi haønh aùn ñược thực hiện theo quy ñịnh tại Ñiều 30 Luật thi haønh aùn daân sự.
Các đương sự coù quyeàn làm đơn khaùng caùo trong thời haïn 15 ngaøy keå töø ngaøy tuyeân aùn, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre; - VKSND huyện Ba Tri; - THADS huyện Ba Tri; - UBND xã M - Các ươn sự; - Lưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đặng Thị Ngọc Duyên |