vanban.org

Bản án 83/2017/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 26/09/2017 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

Buộc ông Nguyễn Đình K và bà Cao Thị Hồng Y phải trả cho bà Phạm Thị H 390.000.000 đồng nợ gốc và 43.875.000 đồng tiền lãi. Tổng cộng là 433.875.000 đồng. Keå töø ngaøy bà Phạm Thị H coù ñôn yeâu caàu thi haønh aùn, neáu ông Nguyễn Đình K và bà Cao Thị Hồng Y khoâng thi haønh khoaûn tieàn treân thì … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. NHA TRANG
TỈNH KHÁNH HOÀ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2017/DS-ST
Ngày: 26/9/2017
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Dƣơng Thị Phƣơng Dung Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Đẹp

Ông Ngô Tiến Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình - Kiểm sát viên

Hôm nay, ngày 26 tháng 9 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 517/2016/TLST-DS ngày 13/10/2016 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2017/QĐXX-DS ngày 23/8/2017 giữa các đương sự sau:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H – sinh năm 1974

Địa chỉ: 44/16 đường K, phường H,Tp. N, tỉnh Khánh Hoà. (Có mặt)

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Đình K – sinh năm 1977

Địa chỉ: 25 đường A, phường T, Tp. N, tỉnh Khánh Hoà. (Vắng mặt)

Bà Cao Thị Hồng Y

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, Tp. N, tỉnh Khánh Hoà. (Vắng mặt)

3. Người làm chứng: Bà Nguyễn Ái Đ – sinh năm 1984

Địa chỉ: 138/12 đường K, phường H,Tp. N, tỉnh Khánh Hoà. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn – bà Phạm Thị H trình bày tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên toà như sau:

Do quen biết nên ngày 10/01/2016 tôi có cho vợ chồng ông Nguyễn Đình K và bà Cao Thị Hồng Y vay 390.000.000 đồng. Giấy mượn tiền do chính tay ông K viết, cả ông K và bà Cao Thị Hồng Y – vợ ông K đều ký tên trong giấy mượn tiền. Ông K hẹn trả dần tôi số tiền trên từ ngày 01/5/2016. Tuy nhiên từ đó đến nay ông K và bà Y chưa trả cho tôi đồng nào. Tôi yêu cầu Toà án giải quyết, buộc ông K và bà Y phải trả cho tôi số tiền đã vay là 390.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 01/6/2016 đến ngày 31/8/2017 theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định. Khi vay ông K có đưa cho tôi 01 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ 029968, số vào sổ cấp GCN: CH01358/22381 đứng tên ông Nguyễn Đình K để làm tin. Tuy nhiên, ngày 19/12/2016 tôi đã giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nha Trang để thi hành án đối với khoản nợ của ông K theo bản án số 36/2016/DSST ngày 03/8/2016 của Toà án nhân dân thành phố Nha Trang.

* Bị đơn ông Nguyễn Đình K và bà Cao Thị Hồng Y đã được Toà án tiến hành thủ tục niêm yết hợp lệ nhưng vẫn không đến Toà nên Toà án không thể tiến hành lấy lời khai và hoà giải được.

- Người làm chứng – bà Nguyễn Ái Đ trình bày tại bản tự khai ngày 05/01/2017:

Tôi là bạn của ông Nguyễn Đình K, tôi có giới thiệu ông K và vợ là Cao Thị Hồng Y đến gặp chị Phạm Thị H để vay tiền. Ngày 10/01/2016 ông K và bà Y đã nhận số tiền 390.000.000 đồng của chị H và viết giấy hẹn đến ngày 01/5/2016 sẽ trả. Lúc đó tôi có mặt và chứng kiến mọi việc. Tôi không biết ông K và bà Y mượn tiền để làm gì. Từ đó đến nay tôi không gặp ông K và bà Y nữa. Tôi nghe chị H nói là ông K và bà Y chưa trả tiền cho chị H.Tôi chỉ biết sự việc như thế, ngoài ra tôi không biết gì hết.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha trang phát biểu quan điểm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Đình K và bà Cao Thị Hồng Y phải trả cho nguyên đơn số tiền đã vay là 390.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 01/6/2016 đến ngày 31/8/2017 theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về thủ tục tố tụng: Việc bà Phạm Thị H khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Đình K và bà Cao Thị Hồng Y trả lại số tiền đã vay. Đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

- Ông Nguyễn Đình K và bà Cao Thị Hồng Y đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng ông K và bà Y cố tình không đến, tuy nhiên Toà án đã tiến hành các thủ tục niêm yết công khai theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên toà hôm nay ông K và bà Y lại vắng mặt, đây là lần thứ hai nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông K và bà Y.

* Về nội dung:

Giữa bà Phạm Thị H với ông Nguyễn Đình K và bà Cao Thị Hồng Y có việc vay mượn tiền. Việc vay mượn tiền này là hoàn toàn tự nguyện. Theo giấy mượn tiền ngày 10/01/2016 bị đơn đã vay số tiền 390.000.000 đồng, hẹn trả dần từ ngày 01/5/2016. Tuy nhiên bị đơn đã không thực hiện đúng cam kết, không trả nợ cho nguyên đơn. Như vậy, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H buộc ông Nguyễn Đình K và bà Cao Thị Hồng Y phải trả cho bà Phạm Thị H số tiền nợ gốc là 390.000.000 đồng.

Về yêu cầu trả tiền lãi, hội đồng xét xử nhận thấy: trong giấy mượn tiền ngày 10/01/2016 không có thoả thuận về lãi suất nhưng thời hạn trả nợ là từ ngày 01/5/2016. Như vậy, sau ngày 01/5/2016 ông K và bà Y không thực hiện tức là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên ông K và bà Y phải trả lãi theo quy định tại khoản 4 Điều 466 Bộ luật dân sự. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn về tính tiền lãi kể từ ngày 01/6/2016 đến ngày 31/8/2017 theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định là có căn cứ để chấp nhận.

Lãi suất cơ bản một tháng là: 9% : 12 tháng = 0,75%/tháng.

Từ đó, tiền lãi sẽ là: 390.000.000 đồng x 0,75% x 15 tháng = 43.875.000 đồng

Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ 029968, số vào sổ cấp GCN: CH01358/22381 đứng tên ông Nguyễn Đình K mà ông K đã đưa cho bà H để làm tin thì bà H đã giao cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nha Trang để thi hành án đối với khoản nợ của ông K theo bản án số 36/2016/DSST ngày 03/8/2016 của Toà án nhân dân thành phố Nha Trang. Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nha Trang đã xác nhận vấn đề này qua biên bản xác minh ngày 08/02/2017. Như vậy là bà H không còn giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ 029968, số vào sổ cấp GCN: CH01358/22381 đứng tên ông Nguyễn Đình K nữa.

Về án phí: Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí DS-ST do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận là 21.355.000 đồng. Hoàn lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 235, Điều 264, Điều 267 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Căn cứ vào Điều 463, Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

Buộc ông Nguyễn Đình K và bà Cao Thị Hồng Y phải trả cho bà Phạm Thị H 390.000.000 đồng nợ gốc và 43.875.000 đồng tiền lãi. Tổng cộng là 433.875.000 đồng.

Keå töø ngaøy bà Phạm Thị H coù ñôn yeâu caàu thi haønh aùn, neáu ông Nguyễn Đình K và bà Cao Thị Hồng Y khoâng thi haønh khoaûn tieàn treân thì phaûi trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2016.

Trong tröôøng hôïp baûn aùn, quyeát ñònh ñöôïc thi haønh theo quy ñònh taïi Ñieàu 2 Luaät thi haønh aùn daân söï thì ngöôøi ñöôïc thi haønh aùn, ngöôøi phaûi thi haønh aùn daân söï coù quyeàn thoaû thuaän thi haønh aùn, quyeàn yeâu caàu thi haønh aùn, töï nguyeän thi haønh aùn hoaëc bò cöôõng cheá thi haønh aùn theo quy ñònh taïi caùc Ñieàu 6,7,9 Luaät thi haønh aùn daân söï; thôøi hieäu thi haønh aùn ñöôïc thöïc hieän theo quy ñònh taïi ñieàu 30 Luaät thi haønh aùn daân söï.

2/ Về án phí: Ông Nguyễn Đình K và bà Cao Thị Hồng Y phải nộp 21.355.000 đồng án phí DS-ST. Hoàn lại cho bà Phạm Thị H 9.750.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số AA/2016/0005176 ngày 12/10/2016 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Nha Trang.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ