vanban.org

Bản án 825/2020/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 03/11/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 03/11/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn B.

II. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 40 ngày 20/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Đưa hối lộ”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Đưa hối lộ” - phạm tội đưa hối lộ (điều 364 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? I. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn B.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 35 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 825/2020/HS-PT
Ngày 03/11/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Phong;

Thẩm phán: Ông Mai Văn Quang và ông Hoàng Văn Thành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tưởng Thị Huyền, Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cẩm Thủy, Kiểm sát viên.

Ngày 03/11/2020, tại Tòa án thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 743 ngày 13/10/2020; Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn B đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 40 ngày 20/7/2020 của Tòa án nhân dân T, thành phố Hà Nội.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn B sinh năm 1975; Nơi KHKTT: Thôn a, xã C, huyện T thành phố Hà Nội; Gới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C và con bà Kiều Thị D; Vợ Chu Thị Lan; Có 03 con; Lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không; Không bị tạm giữ, tạm giam (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 21/03/2020, tổ công tác của UBND xã C, huyện T đã kiểm tra lập biên bản về việc bị cáo xây dựng lán xưởng trái phép trên đất nông nghiệp và tạm giữ số máy móc của bị cáo. Khoảng 16 giờ ngày 26/3/2020, Bị cáo đến trụ sở UBND xã C, huyện T vào phòng làm việc của ông C, chức vụ: Chủ tịch UBND xã; Tại đây ông H yêu cầu bị cáo tự tháo dỡ phần lán xưởng xây dựng trái phép nếu không tự tháo dỡ thì UBND xã sẽ ra quyết định cưỡng chế. Bị cáo đi đến bàn làm việc của ông H đặt 2.000.000đ dưới tập hồ sơ trên bàn làm việc và nói” Chú cầm mấy đồng uống nước rồi bỏ qua cho anh việc làm lán xưởng tại Đồng T”, ông H không đồng ý và yêu cầu bị cáo cất số tiền trên, nếu không cất sẽ lập biên bản về hành vi đưa hối lộ. Bị cáo không cất tiền mà tiếp tục xin ông H bỏ qua cho lỗi vi phạm. Ông H đã mời Công an và các ban ngành của xã đến lập biên bản về hành vi đưa hối lộ của bị cáo và thu giữ 2.000.000đ.

Bản cáo trạng số: 45/CT-VKS ngày 30/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo về tội “Đưa hối lộ” theo khoản 1 Điều 364 Bộ luật hình sự.

Bản án hình sự sơ thẩm số: 40 ngày 20/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Đưa hối lộ”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 364, Điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra Bản án còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 24/7/2020 bị cáo có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo thay đổi kháng cáo là xin được phạt tiền là hình phạt chính.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

+ Về hình thức: Bị cáo nộp đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm chấp nhận giải quyết yêu cầu kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

+ Về nội dung: Cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 06 tháng tù về tội “Đưa hối lộ” theo khoản 1 Điều 364 là phù hợp. Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận mà chỉ xin được phạt tiền là hình phạt chính.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định sau:

Đơn kháng cáo của bị cáo đảm bảo hình thức, thời hạn, đủ điều kiện giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai người làm chứng, vật chứng thu được cùng các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 16 giờ ngày 26/3/2020, tại trụ sở UBND xã C bị cáo Nguyễn Văn B có hành vi đưa hối lộ 2.000.000đ cho Chủ tịch UBND xã C nhằm mục đích để bỏ qua việc xử lý bị cáo xây xựng trái phép trên đất nông nghiệp thì bị Công an lập biên bản và thu giữ số tiền trên.

Cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Đưa hối lộ” theo khoản 1 Điều 364 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét thấy bị cáo nhận thức pháp luật hạn chế, mục đích bị cáo đưa tiền cho Chủ tịch UBND xã nhằm mục đích để bỏ qua cho bị cáo việc xây dựng lán xưởng trái phép; Bị cáo không có tiền án, tiền sự; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo trình bày là lao động chính trong gia đình và xuất trình tài liệu mẹ bị cáo được tặng kỷ niệm chương “Chiến sỹ trường sơn đường Hồ Chí Minh”. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy hành vi của bị cáo chỉ cần áp dụng hình chính là phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự:

I. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn B.

II. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 40 ngày 20/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Đưa hối lộ”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 364; Điều 35; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số: 326, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án xử phạt bị cáo:

Nguyễn Văn B 20.000.000đ sung quỹ Nhà nước.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

III. Các quyết định của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ