vanban.org

Bản án 824/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thanh T được ly hôn ông Nguyễn Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 824/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 15-3-2024
V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thu

2. Ông Phạm Văn Tâm

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đoàn Thị Xuân, Thư ký Tòa

án nhân dân thành phố Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Tuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ

Đức - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia

đình sơ thẩm thụ lý số 2503/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2023 về

việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 609/2024/QĐXXST-

HNGĐ ngày 21/02/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh T, sinh năm 1991 ( có mặt)

Căn cước công dân:

Địa chỉ: 10/3 đường 12, tổ 4, KP4, phường A, thành phố Thủ Đức, Thành

phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Nguyễn Trường P, sinh năm 1989 ( vắng mặt)

Căn cước công dân:

Địa chỉ: 10/3 đường 12, tổ 4, KP4, phường A, thành phố Thủ Đức, Thành

phố Hồ Chí Minh.

NHẬN THẤY:

Trong đơn xin ly hôn ngày 23/6/2023 và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn

là bà Trần Thị Thanh T trình bày:

Bà và ông Nguyễn Trường Pg tự nguyện chung sống với nhau từ năm

2016, có đăng ký kết hôn với nhau và được Ủy ban nhân dân xã Cát Thắng,

huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 06 ngày

03/3/2016. Cuộc sống chung hạnh phúc bình thường đến năm 2020 thì phát sinh

mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình hai bên không hòa thuận không ai hiểu ai, thường xuyên cãi nhau. Bà đã cố gắng chịu đựng vì con và gia đình hai bên cũng hòa giải, hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả mà mâu thuẫn ngày càng trẩm trọng hơn, đôi bên sống ly thân từ tháng 5/2020 cho đến nay. Bà thấy tình cảm hai bên không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Trường P.

Về con chung: Bà và ông P có một người con chung Nguyễn Trần An N,

sinh ngày 12/02/2018. Ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có.

Nợ chung: Không có.

Bị đơn là ông Nguyễn Trường P dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ

nhưng vẫn không đến Tòa án để tham gia tố tụng cũng như không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa: Ông Nguyễn Trường P vắng mặt. Bà Trần Thị Thanh T giữ

nguyên yêu cầu xin ly hôn ông P; yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung Nguyễn Trần An N, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: không có. Nợ chung: Không có.

Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của

Thẩm phán, hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ

án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật, tuân theo nội quy phiên tòa. Đương sự có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi

kiện của bà Trần Thị Thanh T. Bà T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Trần Thị

Thanh T và ông Nguyễn Trường P đã được Ủy ban nhân dân xã Cát Thắng, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 06 ngày 03/3/2016. Bà T yêu cầu ly hôn với lý do cuộc sống chung giữa hai vợ chồng không hạnh phúc, có nhiều mâu thuẫn và ông Nguyễn Trường P cư trú tại phường A, thành phố Thủ Đức. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức theo

quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều

39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là ông Nguyễn Trường P dù đã được Tòa

án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án

tiến hành xét xử vắng mặt ông P theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ

luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về yêu cầu của đương sự:

Theo lời khai của bà T thì vợ chồng bà tự nguyện chung sống với

nhau từ năm 2016, có đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2016. Từ năm 2020

đôi bên bất đồng về quan điểm, lối sống, thường xuyên cãi nhau và đã ly thân từ

tháng 5 năm 2020 đến nay.

Ngày 19 tháng 10 năm 2023, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức thụ lý

vụ án hôn nhân gia đình do bà Trần Thị Thanh T là người khởi kiện yêu cầu ly

hôn với ông Nguyễn Trường P. Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý và triệu tập

hợp lệ theo quy định của pháp luật cho ông P đến Tòa án để ghi lời khai, hòa

giải nhưng ông P vẫn vắng mặt không có lý do, điều đó chứng tỏ ông P không

có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, chưa thực sự coi trọng tình nghĩa vợ

chồng.

Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 qui định: “Vợ chồng có

nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau;

cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình…Vợ chồng có nghĩa

vụ sống chung với nhau…”

Xét quá trình sống chung giữa đôi bên thực tế có xảy ra mâu thuẫn,

không hòa thuận, không còn sự thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau, ly thân

thời gian dài là vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho

hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được,

nên việc bà T yêu cầu được chấm dứt quan hệ hôn nhân với ông P là có cơ sở

giải quyết.

Về con chung: Xét người con chung Nguyễn Trần An N, sinh ngày

12/02/2018 còn nhỏ hiện do bà T chăm sóc, nuôi dưỡng từ khi sinh ra đến nay.

Xét bà T có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng người con chung sau ly hôn, ông

P không có ý kiến gì đối với việc nuôi con nên để đảm bảo sự ổn định và phát

triển bình thường cho người con, Hội đồng xét xử giao người con chung cho bà

T trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T tự nguyện không yêu cầu ông P cấp dưỡng

nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này.

Về tài sản chung: Bà T khai không có tài sản chung, ông P không có

ý kiến về tài sản chung.

Về nợ chung: Bà T khai không có nợ chung. Ông P không có ý kiến

về nợ chung.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng bà Trần Thị

Thanh T phải nộp nhưng được cấn trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0005903 ngày 19/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị chấp nhận

toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1

Điều 39, Điều 147 và khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 83, 84, 85 Luật Hôn nhân và gia đình

năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy

ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thanh T được ly hôn ông Nguyễn

Trường P.

Giấy chứng nhận kết hôn số 06 ngày 03/3/2016 do Ủy ban nhân dân xã

Cát Thắng, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định cấp cho bà Trần Thị Thanh T và ông Nguyễn Trường P không còn giá trị pháp lý.

- Về con chung: Giao người con chung Nguyễn Trần An N, sinh ngày

12/02/2018 cho bà Trần Thị Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng.

Ghi nhận việc bà Trần Thị Thanh T không yêu cầu ông Nguyễn Trường

P cấp dưỡng nuôi con chung.

Không bên nào được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục

con chung. Vì quyền lợi mọi mặt của người con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, hoặc hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con của người không trực tiếp nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

2. Về án phí: 300.000 đồng bà Trần Thị Thanh T phải nộp nhưng được

cấn trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0005903 ngày 19/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành

án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự

nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7

và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy

định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ

ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên

án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản

án hoặc được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ