vanban.org

Bản án 824/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy đ…

Viện kiểm sát nhân dân Q7; Chi cục Thi hành án DS Q7; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà NTTH tranh chấp với ông TDT"
  • Tòa quyết gì? Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy đ…
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 824/2018/HNGĐ-ST
Ngày 14 tháng 11 năm 2018
V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Lê Thị Kim Em;

2/ Bà Tống Thị Kim Điền.

Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Chính Việt Phương – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Võ Thị Ngọc Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2018 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 473/2018/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 304/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà NTTH, sinh năm 1991

Địa chỉ: Số XX đường S, phường A, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh; Tạm

trú: XX đường S, phường A, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. (Yêu cầu xét

xử vắng mặt)

Bị đơn: Ông TDT, sinh năm 1986;

Địa chỉ: Số XX đường S, phường A, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh; Tạm

trú: Số XX đường S, phường A, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng

mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 22/6/2018, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bà NTTH nguyên đơn trình bày: Bà và ông TDT tìm hiểu 06 tháng thì tự nguyện tiến đến hôn nhân, có làm lễ cưới, có đăng ký kết hôn (Giấy chứng nhận kết hôn số B, quyển số C ngày 09/6/2010 do Ủy ban nhân dân phường A, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh cấp). Bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ nên nguyện vọng của bà là:

- Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông T.

- Về con chung: bà xác định có 01 con chung: TTN (nam), sinh ngày 14/12/2010. Sau khi ly hôn bà là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ TN, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: bà xác nhận không có.

- Về nợ chung: bà xác nhận không có. Tòa án đã nhiều lần thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng ông T không trình bày ý kiến. * Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án thực hiện đúng về thời hạn chuẩn bị xét xử. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã chấp hành theo quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành theo quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Bị đơn có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T, tuy nhiên ông T không đến Tòa án, không trình bày ý kiến, Tòa án không tiến hành hoà giải được, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt bà H theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Về yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

Bà H và ông T tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh số B, quyển số C, ngày 09/6/2010 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, vì vậy được pháp luật công nhận và bảo vệ.

- Về quan hệ hôn nhân:

Tại bản khai ngày 18/7/2018 nguyên đơn trình bày: bà và ông T sau khi kết hôn chung sống hạnh phúc được sáu năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông T ghen tuông vô cớ không cho bà tiếp xúc với bạn bè, gia đình. Khi nóng giận ông T đập phá đồ đạc trong nhà, ông đi ra ngoài nhốt hai mẹ con trong nhà. Kinh tế khó khăn nên vợ chồng thường xuyên gây gổ. Vợ chồng ly thân từ năm 2016 đến nay. Tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ, nguyện vọng của bà là được ly hôn.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông T không đến, không có văn bản trình bày ý kiến của mình nên phải gánh chịu hậu quả của việc không tuân thủ nghĩa vụ có mặt theo quy định khoản 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

Hội đồng xét xử xét thấy trong quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông T do kinh tế khó khăn, ông T ghen tuông vô cớ, có những hành động khiến bà H lo sợ, không yên tâm khi sống chung, cuộc sống hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Bà H có nguyện vọng ly hôn, xét thấy yêu cầu của bà H là tự nguyện, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về con chung: Căn cứ Giấy khai sinh số D, quyển số E do Ủy ban nhân dân phường A, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 11/01/2011 đã có đủ cơ sở để xác định bà H và ông T có 01 con chung là: trẻ TTN (nam), sinh ngày 14/12/2010.

Sau khi ly hôn bà H yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng trẻ TTN, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử xét thấy trẻ TTN có nguyện vọng được ở cùng với mẹ, thực tế hiện bà H có công việc ổn định (buôn bán nước giải khát), đang trực tiếp nuôi dưỡng trẻ TTN. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của trẻ Nam theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử giao trẻ Nam cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Ông T được quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở ông T thực hiện quyền và nghĩa vụ này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con. [3]- Tài sản chung, nợ chung: Bà H xác nhận không có.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp hôn nhân và gia đình là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng. Bởi những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 273 Bộ Luật Tố Tụng dân sự;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ quy định tại Luật phí và lệ phí;

- Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Tuyên xử: 1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà NTTH và ông TDT (Giấy chứng nhận kết hôn số B, quyển số C ngày 09/6/2010 do Ủy ban nhân dân phường A, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh cấp). 2/ Về con chung: ông T, bà H có 01 con chung tên TTN (nam), sinh ngày 14/12/2010. Giao con chung TTN cho bà NTTH trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Ông T được quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở ông T thực hiện quyền và nghĩa vụ này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con. 3/ Tài sản chung: không có. 4/ Về án phí dân sự sơ thẩm: bà NTTH phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp hôn nhân và gia đình là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/00256XX ngày 04/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Vậy bà NTTH đã nộp đủ án phí. 5/ Bà NTTH, ông TDT vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ