- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Công B - phạm tội "Buôn bán hàng cấm" - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Công B.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 823/2019/HSPT Ngày: 23/12/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đặng Đình Lực;
Các Thẩm phán:
Ông Võ Hồng Sơn;
Ông Đặng Văn Hưng.
Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Minh Hà, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Phương, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 23 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai, vụ án hình sự thụ lý số 818/2019/TLPT-HS ngày 14 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Công B. Do có kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 11/2019/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.
1. Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Công B, sinh ngày 25/01/1988 tại tỉnh G; Nơi cư trú: Thôn C, xã L, huyện Y, tỉnh G; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Thợ cơ khí; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Nguyễn Công H và con bà Nguyễn Thị T; Có vợ là Nguyễn Thị B; Có 02 con, con lớn sinh 2012, con nhỏ sinh 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2011, bị TAND thành phố Bắc Ninh xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”, đã được xóa án tích; Tạm giữ, tạm giam: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; Có mặt tại phiên tòa.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không có kháng nghị:
2.1. Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam V; Địa chỉ: số 303, Lê Lợi, thành phố Bắc Giang, tỉnh G; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Ngọc T; Chức vụ: Giám đốc; Vắng mặt.
2.2. Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1993; Nơi cư trú tại: Thôn C, xã L, huyện Y, tỉnh G; Vắng mặt.
2.3. Anh Đặng Văn N, sinh năm 1993; Nơi cư trú tại: Thôn Lý, xã Việt Lập, huyện Tân Yên, tỉnh G; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 0 giờ 50 phút ngày 19/01/2019, tại địa phận Thôn Bản Mạch, thị trấn Nà Phặc, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn. Công an tỉnh Bắc Kạn yêu cầu dừng xe ô tô hiệu Kia Morning, BKS 98A-080.99 do Nguyễn Công B điều khiển để kiểm tra, phát hiện có nhiều thùng giấy cát tông trong bao tải dứa xanh, nghi là pháo nổ và lập biên bản tạm giữ, niêm phong toàn bộ vật chứng. Tiến hành cân xác định khối lượng, số lượng gồm 09 thùng, trong mỗi thùng có chứa 18 hộp pháo nhỏ. Tổng khối lượng 09 thùng pháo cả hộp cát tông là 232,2 kg. Trong đó, tổng khối lượng pháo không tính vỏ thùng cát tông là 225 kg. Tại Kết luận giám định số 448/C09-P2 ngày 28/01/2019 của Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an, kết luận: “Tất cả mẫu vật gửi giám định đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ)”.
Quá trình điều tra, xác định: Ngày 16/01/2019, B mượn xe ô tô của anh Đặng Văn Nguyện đi đến nhà chị Nguyễn Thị Lan, trú tại thị trấn Bảo Lạc, huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng để lấy tiền công trình. Khi đi đến địa phận giáp ranh giữa huyện Thông Nông và huyện Bảo Lạc, B gặp một người đàn ông đang đốt pháo ở ven đường, B dừng xe lại và hỏi mua pháo, người đàn ông trả lời nếu muốn mua thì chiều quay lại vị trí này sẽ có pháo. Sau đó, B tiếp tục đi đến nhà chị Lan được trả 32.000.000đ tiền công, B quay về đến điểm hẹn thì thấy người đàn ông đã gặp buổi sáng điều khiển xe máy không có biển kiểm soát đi đến. B hỏi mua một ít pháo, người đàn ông này trả lời là mua ít thì không bán và giới thiệu đang có chỗ pháo nếu mua hết thì bán rẻ, đồng thời đưa máy điện thoại cho B xem hình ảnh các hộp pháo và đưa ra giá là 7.700.000đồng. Sẵn có tiền nên B đã đồng ý mua, người đàn ông đi trước dẫn đường, đến địa điểm cất giấu pháo thuộc địa phận thôn Bản Đâư, xã Vị Quang, huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng thì dừng lại. B xuống xe và nhìn thấy có 09 bao tải dứa màu xanh ven đường, bên trong có chứa các hộp pháo. B mở cửa xe để người đàn ông này bốc và xếp 09 bao tải dứa có đựng các hộp pháo lên xe, rồi trả số tiền 7.700.000đồng. B mua số pháo trên với mục đích mang về sử dụng trong dịp tết nguyên đán. Sau khi mua được pháo, B mang về Xưởng cơ khí của mình tại Tổ 21, phường Đề Thám, thành phố Cao Bằng và đỗ xe ở trước cửa xưởng. Đêm ngày 18/01/2019, B điều khiển xe ô tô có chứa 09 bao tải đựng các hộp pháo mang về nhà tại tỉnh G để sử dụng, khi đang trên đường vận chuyển thì bị phát hiện, bắt giữ.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 11/2019/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn, quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công B phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. Áp dụng điểm c khoản 3, khoản 4 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Công B 05(năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Phạt tiền bị cáo Nguyễn Công B 10.000.000đồng sung ngân sách Nhà nước. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 09 tháng 09 năm 2019, bị cáo Nguyễn Công B kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Nguyễn Công B xác định hành vi mà bản án sơ thẩm xử phạt với tội danh, điểm, khoản, điều luật áp dụng là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, mức hình phạt là quá nặng, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mẹ già yếu, nuôi hai con nhỏ, hiện là lao động chính trong gia đình, đã nộp tiền phạt bổ sung tại bản án sơ thẩm nên giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; giao nộp Công văn số 11/CQCSĐT ngày 19 tháng 12 năm 2019 của Công an huyện Y, tỉnh G.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và căn cứ kháng cáo của bị cáo, kết luận: Bị cáo Nguyễn Công B bị Viện kiểm sát truy tố và Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 05(năm) năm tù về tội “Vận chuyển hàng cấm”, theo điểm c khoản 3 Điều 191 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xuất trình tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới: xuất trình xác nhận của Công an huyện Y đã có đơn tố giác tội phạm, nộp khoản tiền phạt bổ sung, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt theo hướng xử phạt bị cáo Nguyễn Công B từ 04(bốn) năm đến 04(bốn) năm 06(sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cấp sơ thẩm thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đơn kháng cáo của bị cáo gửi trong thời hạn luật định, được cấp phúc thẩm chấp nhận.
Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Công B thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Hồi 0 giờ 50 phút ngày 19/01/2019, tại Km 199 + 600 thuộc địa phận Thôn Bản Mạch, thị trấn Nà Phặc, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn. Công an tỉnh Bắc Kạn bắt quả tang Nguyễn Công B điều khiển xe ô tô Biển kiểm soát 98A-080.99, vận chuyển 09(chín) thùng bìa cát tông, bên trong chứa 225kg pháo nổ thì bị bắt giữ. Với khối lượng pháo nổ vận chuyển trái phép nêu trên, bị cáo Nguyễn Công B bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 3 Điều 191 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, bị cáo bất chấp quy định của pháp luật, xâm phạm đến những quy định cấm của Nhà nước về lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại. Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có bố vợ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì, nên đã được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng. Với khối lượng pháo nổ mà bị cáo vận chuyển là rất lớn, trong khi tình hình tội phạm về buôn bán, vận chuyển hàng cấm ngày càng có xu hướng diễn biến phức tạp, hết sức tinh vi; bị cáo B có nhân thân xấu, bị xét xử về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” năm 2011 mặc dù đã được xóa án tích, nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng, rèn luyện bản thân nay tiếp tục phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật. Cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly khỏi xã hội một thời gian thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, nhằm giáo dục và cải tạo bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá đúng tính chất, hành vi, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tình hình đấu tranh phòng chống tội phạm, xử phạt bị cáo với mức hình phạt 05(năm) năm tù là phù hợp.
Xét kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Công B:
Tại cấp phúc thẩm bị cáo trình bày có hoàn cảnh khó khăn là đúng, việc này phù hợp cung cấp của Ủy ban nhân dân xã L ngày 18/3/2019, thể hiện: Tháng 11/2018 bố bị cáo là ông Nguyễn Công Hiệp bị tai nạn giao thông gẫy chân, tay, xương hàm không đi lại được; mẹ là Nguyễn Thị Thành già yếu, đi lại khó khăn, tai điếc; anh trai B hiện đang chấp hành hình phạt tù; vợ Nguyễn Thị Biên đang ly thân không chung sống cùng bị cáo, hiện hai con nhỏ sinh sống cùng B và ông bà nội chăm sóc, nuôi dưỡng; B là lao động duy nhất. Ngoài ra, ngày 04/10/2019 bị cáo B nộp số tiền 10.000.000đồng là hình phạt bổ sung và 200.000đồng án phí sơ thẩm, thể hiện ý thức chấp hành và hối cải của bị cáo. Tại phiên tòa, bị cáo giao nộp Công văn số 11/CQCSĐT ngày 19/12/2019 của Công an huyện Y, tỉnh G đã có đơn tố giác tội phạm. Do vậy, đây là những tình tiết giảm nhẹ mới áp dụng cho bị cáo được hưởng theo điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo, xét thấy bị cáo B bị xét xử theo điểm c khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 05 năm đến 10 năm tù, cấp sơ thẩm xử phạt 05 năm tù khởi điểm của khung hình phạt. Tại cấp phúc thẩm bị cáo được hưởng thêm hai tình tiết giảm nhẹ mới tại điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy, áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để giảm một phần hình phạt, xử phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Tuy nhiên, với khối lượng vận chuyển pháo nổ rất lớn, việc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, nên bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo không có căn cứ chấp nhận. Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Công B có cơ sở được cấp phúc thẩm chấp nhận một phần.
Quan điểm đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội là có cơ sở, được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo kháng cáo được chấp nhận một phần, nên không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyết định khác: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Công B.
2. Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số 11/2019/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 191; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công B 04 (bốn) năm tù, về tội: “Vận chuyển hàng cấm”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Công B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND tỉnh Bắc Kạn; - VKSND tỉnh Bắc Kạn; - Cục THADS tỉnh Bắc Kạn; - Công an tỉnh Bắc Kạn; - Bị cáo Nguyễn Công B; - Lưu HS; HCTP. CÁC THẨM PHÁN Võ Hồng Sơn Đặng Văn Hưng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đặng Đình Lực THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Đình Lực |