- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản Hoàng Minh N - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố, bị cáo Hoàng Minh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 82/2026/HS-ST Ngày: 26-03-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
- Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Qui
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Khắc Quế
2. Bà Nguyễn Thị Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Khắc Cường – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 26 tháng 03 năm 2026, tại Tòa án nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2026/HSST ngày 11 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2026/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 03 năm 2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Minh N; tên gọi khác: không; sinh năm 1991; tại: Lạng Sơn; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn B Ú D, xã Q, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Minh K, sinh năm 1960 và bà Lăng Thị B, sinh năm 1962, hiện ở tại: Thôn B Ú D, xã Q, tỉnh Lâm Đồng; vợ: Lồ Thị M, sinh năm 1988.
Tiền án, Tiền sự: không.
Nhân thân:
+ Ngày 04/8/2015 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông tuyên phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 49/2015/HSST. Đã xóa án tích.
+ Ngày 06/9/2018, bị Toà án nhân dân Quận 8, TP . quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng, theo quyết định số 398/2018/QĐ-TA, đã chấp hành xong.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Phân trại tạm giam Bảo L - Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh L, từ ngày 05/12/2025 đến nay (có mặt).
- Bị hại: Công ty cổ phần Đ.
Đại diện ủy quyền: Ông Tạ Hỷ M1, sinh năm 1993; địa chỉ: Số A Hà Giang, phường B, tỉnh Lâm Đồng.(có đơn đề nghị vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 30/11/2025, Hoàng Minh N đến cửa hàng Đ1 tại Thôn A, xã B, tỉnh Lâm Đồng để tìm mua điện thoại di động. Sau khi lựa chọn, Hoàng Minh N nói với ông Tạ Hỷ M1 (Sn: 1993, NCT: Hà Giang, phường B, tỉnh Lâm Đồng – là nhân viên cửa hàng) cho N xem 01 điện thoại di động hiệu Motorola, model: XT2433-4 màu đen, giá niêm yết tại cửa hàng là 3.790.000 đồng. Khi thanh toán, do N chỉ còn 1.000.000 đồng tiền mặt nên N đưa cho ông Tạ Hỷ M1 01 thẻ ATM Ngân hàng thương mại cổ phần C (V) mang tên Hoàng Minh N để thanh toán, nhưng không thanh toán được do tài khoản ngân hàng của N không đủ tiền. Trong lúc nhân viên không để ý, Hoàng Minh N đã lén lút bỏ điện thoại trên vào túi quần rồi rời khỏi cửa hàng. Khoảng 30 phút sau, nhân viên cửa hàng phát hiện N đã lén lút cầm điện thoại đi nên đã liên lạc và yêu cầu N mang điện thoại trả lại cho cửa hàng nhưng N không trả và đón xe đi Đ. Đến ngày 05/12/2025, Hoàng Minh N đến cửa hàng Đ1 tại Thôn A, xã B, tỉnh Lâm Đồng để trả lại điện thoại di động đã trộm cắp rồi đến Công an xã B đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 10/12/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND xã B kết luận 01 điện thoại di động hiệu Motorola giá trị ước tính 3.360.000 đồng (ba triệu, ba trăm sáu mươi nghìn đồng chẵn).
Vật chứng thu giữ: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã thu giữ: 01 điện thoại nhãn hiệu Motorola màu đen, model: XT2433-4. Đã trả lại cho bị hại ông Tạ Hỷ M1, quản lý cửa hàng Điện máy xanh. (BL112)
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại ông Tạ Hỷ M1 không yêu cầu Hoàng Minh N bồi thường về phần dân sự.
Tại bản cáo trạng số 123/CT-VKSKV4 ngày 09 tháng 02 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Hoàng Minh N về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Hoàng Minh N thừa nhận toàn bộ nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng, bị cáo không thắc mắc hay khiếu nại gì nội dung của bản cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025. Đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Minh N từ 15 đến 18 tháng tù.
Vật chứng thu giữ: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã thu giữ: 01 điện thoại nhãn hiệu Motorola màu đen, model: XT2433-4. Đã trả lại cho bị hại ông Tạ Hỷ M1, quản lý cửa hàng Điện máy xanh.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu Hoàng Minh N bồi thường về phần dân sự.
Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo N không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai và xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an tỉnh L; của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến thắc mắc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.
[2] Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Minh N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, vật chứng thu giữ, biên bản xác định hiện trường và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 17 giờ ngày 30/11/2025, tại cửa hàng Đ1 tại Thôn A, xã B, tỉnh Lâm Đồng, lợi dụng lúc nhân viên cửa hàng Điện máy xanh không để ý, Hoàng Minh N đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Motorola, model: XT2433-4 màu đen giá trị ước tính 3.360.000 đồng của cửa hàng Điện máy xanh. Như vậy, hành vi của bị cáo vi phạm pháp luật, xâm phạm trái pháp luật đến quyền sở hữu tài sản của người khác và gây mất trật tự trị an tại địa phương, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện.
Đối chiếu lời khai của bị cáo; lời khai của bị hại và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ khẳng định hành vi của bị cáo Hoàng Minh N đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 đã truy tố bị cáo Hoàng Minh N về tội danh và điều luật như Cáo trạng là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội bị cáo đã đến Công an xã B đầu thú. Vì vậy cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.
Về nhân thân: Ngày 04/8/2015 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông tuyên phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 49/2015/HSST. Đã xóa án tích.
Ngày 06/9/2018, bị Toà án nhân dân Quận 8, TP . quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng, theo quyết định số 398/2018/QĐ-TA, đã chấp hành xong.
[4] Về tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội: hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện thái độ của bị cáo coi thường kỷ cương pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xét tính chất hành vi của bị cáo, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ nên xử bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo. Vì vậy, cần xét xử bị cáo một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[6] Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã thu giữ và trả lại: 01 điện thoại nhãn hiệu Motorola màu đen, model: XT2433-4 cho bị hại ông Tạ Hỷ M1, quản lý cửa hàng Điện máy xanh là chủ sở hữu hợp pháp.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố, bị cáo Hoàng Minh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025; xử phạt bị cáo Hoàng Minh N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/12/2025.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí tòa án, buộc bị cáo Hoàng Minh N phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Đối với bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKS tỉnh Lâm Đồng; - Sở tư pháp; - VKS KV4; - Công an tỉnh Lâm Đồng; - Phòng PV 06 – CA tỉnh Lâm Đồng; - Người tham gia tố tụng; - Phòng THA DS KV4; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Qui |