- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Viết V và đồng phạm: Tàng trữ hàng cấm - tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Viết V và Vũ Duy A đều phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 -HƯNG YÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 82/2026/HS-ST Ngày 22 tháng 5 năm 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Mai Văn Duy-Cán bộ hưu trí xã Quang Hưng, tỉnh Hưng Yên.
Bà Lê Thị Huyền-Cán bộ hưu trí xã Quang Hưng, tỉnh Hưng Yên.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hùng là thẩm tra viên Toà án nhân dân khu vực 1-Hưng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Ngọc-Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1- Hưng Yên, Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 64/2026/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2026/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2026, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Viết V, sinh năm 2001.
Nơi cư trú: thôn Đ, xã Q, thành phố H.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Viết V1 và bà Hoàng Thị Đ; vợ: Nguyễn Thị N; con: có 01 con sinh năm 2022; số CMND/CCCD/Hộ chiếu: 001201039992.
Tiền án; Tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 26/01/2026 đến ngày 03/02/2026 thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
2. Vũ Duy A, sinh năm 2001.
Nơi cư trú: thôn U, xã Q, thành phố H.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đức T và bà Đặng Thanh H; vợ, con: Chưa; số CMND/CCCD/Hộ chiếu: 001201039347.
Tiền án; Tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 26/01/2026 đến ngày 03/02/2026 thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
Các bị cáo đang tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Viết V1, sinh năm 1971-Vắng mặt.
Địa chỉ: thôn Đ, xã Q, thành phố H.
Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Ông Nguyễn Hoàng V2, sinh năm 1964-Vắng mặt.
Địa chỉ: tổ dân phố 3, phường HC, tỉnh H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ 10 phút ngày 26/01/2026, tại khu vực đường bê tông thuộc tổ dân phố Phố Hiến, phường HC, tỉnh H, Công an phường HC, tỉnh H phát hiện Nguyễn Viết V, sinh năm 2001, trú tại: thôn Đ, xã Q, thành phố H đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển số 29X1-383.86 chở theo sau là Vũ Duy A, sinh năm 2001, trú tại: thôn U, xã Q, thành phố H đang ôm 01 thùng giấy cát tông có chữ AJINOMOTO. Tiến hành kiểm tra, phát hiện bên trong thùng giấy trên có 04 hộp dạng hình chữ nhật đều có chữ nước ngoài màu vàng, đỏ, mặt trên màu vàng, trong đó có 02 hộp kích thước (17 x 17 x 15) cm và 02 hộp có kích thước (16,5 x 13 x 15) cm. V và Duy A đều khai nhận đây là pháo nổ, mục đích mua về để sử dụng. Công an phường HC, tỉnh H đã tiến hành lập biên bản bắt quả tang đối với V và Duy A đồng thời thu giữ các vật chứng có liên quan.
Bản Kết luận giám định số 295/KL-KTHS ngày 30/01/2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu vật được niêm phong trong 01 thùng bìa cát tông gửi giám định là pháo nổ. Tổng khối lượng là 6,9kg.
Hoàn lại đối tượng giám định: Không.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Viết V và Vũ Duy A. Kết quả khám xét không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại cơ quan điều tra Nguyễn Viết V và Vũ Duy A đều khai nhận: Do có nhu cầu đốt pháo nổ do nước ngoài sản xuất vào dịp tết Nguyên Đán nên khoảng đầu tháng 12 năm 2025, V sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vào tài khoản Facebook có tên hiển thị là “Nguyễn Viết V” để tìm người bán pháo nổ. V hỏi mua pháo của một tài khoản facebook có tên hiển thị "Quyết Nguyễn". V gửi số điện thoại 0966850313 của V cho người đó thì có tài khoản zalo có tên hiển thị là “Nguyễn Tuấn Quyết” nhắn tin đến tài khoản zalo có tên “V Nhôm” của V. Quá trình nói chuyện, người này báo giá 1.000.000 đồng/ 01 giàn pháo nổ, V bảo người này có mấy giàn thì mang cho V. Hai bên thống nhất ngày 26/01/2026 người đó sẽ gửi vị trí lấy pháo qua định vị trong Messenger và Zalo cho V. Khoảng 17 giờ ngày 26/01/2026, Duy A đến nhà V chơi, V nói với Duy A là “Về Hưng Yên mua pháo cùng tao”. Duy A hiểu V nói là đi mua pháo nổ, loại pháo của nước ngoài sản xuất, đã bị Nhà nước cấm đốt nhưng Duy A vẫn đồng ý đi cùng. V điều khiển xe mô tô biển số 29X1- 383.86 chở Duy A về phường HC, tỉnh H để mua pháo. V và Duy A đi theo định vị thì gặp 01 người nam giới mặc quần áo Grap, đội mũ bảo hiểm màu đen, đeo khẩu trang, khoảng sinh năm 1995 hoặc 1996, đi xe mô tô nhãn hiệu Wave (không nhớ biển số) tại khu vực đường đê thuộc phường HC, tỉnh H thì người này chỉ cho vị trí để pháo dưới lòng đường. V và Duy A đi ra bê lên xem thì thấy có 01 thùng bìa cát tông bên trong có 04 hộp pháo nổ, người này nói “Tí về chuyển khoản sau cho anh cũng được” rồi điều khiển xe đi trước (do V đã thống nhất từ trước sau khi nhận pháo thì chuyển khoản sau). Khi V lên vị trí để điều khiển xe còn Duy A ngồi sau đang bê thùng bìa cát tông thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang. Đến nay, V chưa thanh toán tiền cho người bán pháo.
Người đàn ông bán pháo cho V và Duy A: Các bị cáo khai khi gặp người này thấy người này mặc quần áo Grab, đội mũ bảo hiểm màu đen, đeo khẩu trang, V không biết nhân thân, lai lịch của người này. Công ty cổ phần tập đoàn VNG không cung cấp được thông tin về tài khoản zalo "Nguyễn Tuấn Quyết" vì không có số điện thoại đăng ký tài khoản hoặc danh thiếp có mã QR. Cục an ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao - Bộ Công An chưa xác định được thông tin đối với tài khoản Facebook “Quyết Nguyễn”. Do vậy không đủ căn cứ để xác minh, làm rõ và xem xét xử lý.
Vật chứng của vụ án: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda đeo biển số 29X1-383.86 thu giữ của Nguyễn Viết V: Quá trình điều tra, xác định chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Viết V1, sinh năm 1972, trú tại thôn Đ, xã Q, thành phố H (là bố đẻ của V). Ông V1 khai xe mô tô trên mang biển số 19X – 0224 nhưng chiếc biển số này ông V1 đã làm mất. Khoảng tháng 01 năm 2026 ông V1 nhặt được chiếc biển số 29X1-383.86 nên ông V1 đã treo vào xe để đi lại trong thời gian đợi làm lại biển số xe. Ông V1 không biết việc bị cáo V sử dụng xe mô tô trên để đi mua pháo nổ nên không có căn cứ để xử lý đối với ông V1. Ngày 28/03/2026, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho ông V1.
Chiếc biển số 29X1-383.86: Quá trình điều tra xác định chị Nguyễn Thị Th là chủ sở hữu của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda biển số 29X – 383.86. Chị Th hiện đang sử dụng chiếc xe và biển số xe trên.
01 thùng giấy cát tông có chữ AJINOMOTO, 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 pro Max bên trong có 01 thẻ sim số thuê bao 0966850313 đang được bảo quản tại Kho vật chứng thuộc phân trại tạm giam Tiên Lữ - Trại tạm giam số 01, Công an tỉnh Hưng Yên, 01 biển số xe 29X – 383.86 kèm theo hồ sơ vụ án.
Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Nguyễn Viết V, Vũ Duy A đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 128/CT-VKS-KV1 ngày 17/4/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Hưng Yên đã truy tố các bị cáo Nguyễn Viết V, Vũ Duy A đều về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo nhất trí với Kết luận giám định về khối lượng, loại pháo nổ không thắc mắc gì. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Hưng Yên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Viết V, Vũ Duy A đều về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự và có quan điểm đề nghị: Các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 46, 47, 17, 58, điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 191, khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự. Điều 106, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Viết V, Vũ Duy A đều phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Về vai trò: Bị cáo V có vai trò chính tiếp đến là vai trò của bị cáo A.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết V từ 01 năm tù đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo V Duy A từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là lao động tự do không có tài sản, không có thu nhập ổn định nên không phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 01 thùng giấy cát tông có chữ AJINOMOTO, quản lý trong hồ sơ vụ án 01 biển số xe 29X – 383.86.
Tịch thu 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 pro Max bên trong có 01 thẻ sim số thuê bao 0966850313.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Các vấn đề khác không xem xét.
Các bị cáo không có tranh luận gì.
Các bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Do có ý định đốt pháo nổ do nước ngoài sản xuất vào dịp tết Nguyên Đán nên khoảng đầu tháng 12 năm 2025, Nguyễn Viết V đã sử dụng điện thoại di động vào tài khoản Facebook có tên hiển thị là “Nguyễn Viết V” để tìm người bán pháo nổ. Sau đó, V hỏi mua pháo của một tài khoản facebook có tên hiển thị "Quyết Nguyễn", tài khoản zalo có tên hiển thị là “Nguyễn Tuấn Quyết”. Quá trình trao đổi, V và người này thống nhất giá mua bán pháo nổ là 1.000.000 đồng/ 01 giàn pháo nổ và thống nhất ngày 26/01/2026 người đó sẽ gửi vị trí lấy pháo qua định vị trong Messenger và Zalo cho V. Khoảng 17 giờ ngày 26/01/2026, V rủ Vũ Duy A là bạn của V đi lấy pháo, Vũ Duy A biết là V đi mua pháo nổ và đồng ý đi cùng V để lấy pháo. V điều khiển xe mô tô biển số 29X1-383.86 chở Duy A về phường HC, tỉnh H để mua pháo, đến địa điểm giao hẹn, V và Duy A gặp một người nam giới mặc quần áo Grap, đội mũ bảo hiểm màu đen, đeo khẩu trang, đi xe mô tô nhãn hiệu Wave (không nhớ biển số) tại khu vực đường đê thuộc phường HC, tỉnh H, người này chỉ vị trí để pháo dưới lòng đường, V và Duy A đi ra bê lên xem thì thấy có 01 thùng bìa cát tông bên trong có 04 hộp pháo nổ, người này nói “Tí về chuyển khoản sau cho anh cũng được” rồi điều khiển xe đi trước do trước đó người bán pháo và V đã thống nhất sau khi nhận pháo thì chuyển khoản sau. Nhận được pháo, V điều khiển xe, Duy A ngồi sau bê thùng bìa cát tông chứa pháo thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Tại Kết luận giám định số 295/KL-KTHS ngày 30/01/2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu vật được niêm phong trong 01 thùng bìa cát tông gửi giám định là pháo nổ. Tổng khối lượng là 6,9 kg.
. Cơ quan điều tra công an tỉnh Hưng Yên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Hưng Yên, điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật không có vi phạm gì.
. Căn cứ các chứng cứ đã thu thập thì có căn cứ xác định:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm, đã xâm phạm tới trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại. Các bị cáo khai mua pháo của người không quen biết để sử dụng, chưa trả tiền mua pháo, ngoài lời khai của các bị cáo thì không còn chứng cứ nào khác chứng minh các bị cáo đã mua pháo của ai. Số pháo khi thu giữ được bị cáo A đang giữ, trên xe do bị cáo V điều khiển. Do vậy, căn cứ lời khai của các bị cáo, vật chứng đã thu giữ và các chứng cứ khác của vụ án thì có căn cứ xác định các bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ 6,9 kg pháo nổ. Với hành vi phạm tội, trọng lượng pháo nổ các bị cáo đã tàng trữ, nhân thân của các bị cáo, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Hưng Yên đã truy tố các bị cáo Nguyễn Viết V và Vũ Duy A đều về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự là đúng pháp luật. Các bị cáo là người không bị hạn chế năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo V là người điều khiển phương tiện, rủ rê bị cáo A cùng thực hiện hành vi tàng trữ pháo nổ nên bị cáo V là người có vai trò chính, tiếp đến là vai trò của bị cáo A. Các bị cáo phạm tội do lỗi cố ý, quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do vậy các bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly các bị cáo khỏi xã hội để các bị cáo có cơ hội cải tạo, thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là lao động tự do không có tài sản, không có thu nhập ổn định nên không phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Vì vậy quan điểm đề nghị về hình phạt của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Hưng Yên đối với các bị cáo là phù hợp, cần chấp nhận.
. Người bán pháo cho các bị cáo nhưng các bị cáo khai không biết nhân thân, lai lịch, đặc điểm cụ thể của người này, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên đã tiến hành xác minh nhưng không có đủ chứng cứ nên cơ quan điều tra không xem xét, xử lý là phù hợp.
. Vật chứng của vụ án: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda đeo biển số 29X1-383.86 là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Viết V1, là bố đẻ của V. Ông V1 không biết việc bị cáo V sử dụng xe mô tô trên để đi mua pháo nổ nên không có căn cứ để xử lý đối với ông V1. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho ông V1 là phù hợp.
Chiếc biển số 29X1-383.86 là chứng cứ nên quản lý tại hồ sơ vụ án.
01 thùng giấy cát tông có chữ AJINOMOTO là thùng đựng pháo nên tịch thu cho tiêu hủy.
01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 pro Max bên trong có 01 thẻ sim số thuê bao 0966850313: là tài sản của bị cáo V sử dụng để phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
. Các vấn đề khác hội đồng xét xử không xét.
. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65, Điều 17, Điều 58, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Viết V và Vũ Duy A.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Viết V và Vũ Duy A đều phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết V: 01(một) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Tàng trữ hàng cấm”, thời gian thử thách là 02 (hai) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Vũ Duy A: 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Tàng trữ hàng cấm”, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Nguyễn Viết V và Vũ Duy A cho Ủy ban nhân dân xã Quảng Bị, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Không phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 pro Max của bị cáo V, bên trong có 01 thẻ sim số thuê bao 0966850313.
Tịch thu cho tiêu hủy 01 thùng giấy cát tông có chữ AJINOMOTO.
Tình trạng vật chứng thể hiện theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/4/2026 và đang được quản lý tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 1-Hưng Yên.
Quản lý tại hồ sơ vụ án chiếc biển số 29X1-383.86 (Hiện đang quản lý tại hồ sơ vụ án).
Về án phí: Áp dụng Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Nguyễn Viết V và bị cáo Vũ Duy A, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự.
Các vấn đề khác Hội đồng xét xử không xét.
Quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án sơ thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hưng Yên; - VKSNDtỉnh Hưng Yên; - VKSNDkhu vực 1- Hưng Yên; - Công an tỉnh Hưng Yên; - Thi Hành án dân sự tỉnh Hưng Yên; - UBND xã; - Bị cáo,người tham gia tố tụng; - Lưu. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tuấn |