- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Hữu D - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Huỳnh Hữu D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH TÂY NINH Bản án số: 82/2025/HS-ST Ngày: 30 - 10 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Vụ.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Rạt.
Ông Nguyễn Chí Lin.
- Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thị Như Ý - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 – Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Tây Ninh, tham gia phiên tòa: bà Phạm Hồng Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2025/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Huỳnh Hữu D, tên gọi khác: Không có; giới tính: Nam. Ngày, tháng, năm sinh: 29/9/2005, nơi sinh: tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú: ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng, nay là ấp T, xã L, Thành phố Cần Thơ. Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Công nhân, chức vụ trước khi phạm tội: Không, trình độ học vấn: 12/12.
Họ và tên cha: Huỳnh Văn T, sinh năm 1966 (chết). Họ và tên mẹ: Lê Thị Kim T1, sinh năm 1972 (sống). Anh, chị, em ruột: Có 01 người chị, sinh năm 2000. Vợ, con: Không. Tiền sự: Không. Tiền án: Không.
Bị cáo Huỳnh Hữu D đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/7/2025 đến ngày 03/10/2025 tại xã L, Thành phố Cần Thơ (bị cáo có mặt).
- Bị hại: Công ty TNHH K (Việt Nam)
Địa chỉ trụ sở: Lô C, đường số C, khu công nghiệp T, xã Đ tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông ZHU LIN MING - Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của ông ZHU LIN MING là bà Phan Thị Kiều L, sinh năm 1988. Địa chỉ: ấp A, xã M, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
2.3. Người làm chứng: Trần Minh N, sinh năm 1990 (vắng mặt); Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1969 (vắng mặt) và Nguyễn Anh Q, sinh năm 1987 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ ngày 11/3/2025, Huỳnh Hữu D đến Công ty trách nhiệm hữu hạn K tại khu dệt dây để làm việc. Đến khoảng 01 giờ ngày 12/03/2025, D đi đến xưởng kéo sợi tại khu xoắn đồng của Công ty trách nhiệm hữu hạn K để tìm tài sản chiếm đoạt đem bán lấy tiền tiêu xài. Lúc này, D nhìn thấy 01 cuộn dây đồng còn nguyên, loại dây 2.6mm đang để bên trong xưởng, D quan sát thấy không có người trông giữ nên lén lút lấy cuộn dây đồng đem về khu dệt dây nơi D làm việc, sau đó D lấy 01 dao rọc giấy cán màu xanh, lưỡi dao bằng kim loại có sẵn tại khu dệt gần vị trí D làm việc để cắt cuộn dây đồng này ra thành 03 đoạn rồi quấn lại thành 03 cuộn đồng nhỏ và dùng bọc nhựa quấn xung quanh 03 cuộn đồng lại sau đó cất giấu vào bao nylon và tiếp tục làm việc.
Đến khoảng 02 giờ cùng ngày 12/03/2025, D lấy 03 cuộn đồng chiếm đoạt được trước đó đem cất giấu bên trong cốp xe mô tô của Danh hiệu Dream màu nâu, số khung 00588, số máy 0588, biển số 66F4-2048. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày D tan ca ra về, khi D dẫn xe mô tô Dream biển số 66F4-2048 đi đến cổng công ty thì bị bảo vệ Công ty trách nhiệm hữu hạn K kiểm tra xe phát hiện bắt giữ giao cho Đồn Công an khu công nghiệp T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là Đồn Công an khu công nghiệp T, xã Đ, tỉnh Tây Ninh) xử lý.
Cùng ngày 12/3/2025, Phan Thị Kiều L, sinh năm 1988, nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện D, tỉnh Tây Ninh (nay là ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh) là người đại diện theo ủy quyền của Công ty trách nhiệm hữu hạn K trình báo sự việc đến Đồn Công an khu công nghiệp T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là Đồn Công an khu công nghiệp T, xã Đ, tỉnh Tây Ninh) đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 03 cục đồng được quấn bọc nhựa xung quanh, có tổng trọng lượng 11,31kg, trong đó trọng lượng mỗi cục là 3,5kg; 3,175kg và 4,635kg;
- 01 xe mô tô loại Dream, số khung 00588, số máy 0588, biển số 66F4-2048;
- 01 con dao rọc giấy cán màu xanh.
Tại Kết luận định giá tài sản số 28/KL.HĐĐGTS ngày 05/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, tỉnh Long An kết luận:
“03 cuộn dây đồng loại 2.6mm, màu đỏ, có trọng lượng 11,31kg, trị giá 2.827.410 đồng”.
Tại Cáo trạng số 45/CT-VKSKV3 ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Tây Ninh truy tố bị cáo Huỳnh Hữu D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Bị hại là Công ty TNHH K (Việt Nam) do bà Phan Thị Kiều L đại diện trình bày: Người đại diện theo ủy quyền của công ty trách nhiệm hữu hạn K là Phan Thị Kiều L đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt gồm 03 cuộn dây đồng loại 2.6mm, màu đỏ, có trọng lượng 11,31kg, không có yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo D gây ra; đồng thời căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Hữu Danh T2 06 tháng đến 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Về xử lý vật chứng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành trao trả xong cho chủ sở hữu hợp pháp các tài sản gồm: Trao trả cho Phan Thị Kiều L là người đại diện theo ủy quyền của Công ty trách nhiệm hữu hạn K: 03 cuộn dây đồng loại 2.6mm, màu đỏ, có trọng lượng 11,31kg theo biên bản trả tài sản ngày 08/9/2025 nên đề nghị không xem xét.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47, Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô loại Dream, số khung 00588, số máy 0588, biển số 66F4-2048.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao rọc giấy cán màu xanh.
Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện theo ủy quyền của công ty trách nhiệm hữu hạn K là Phan Thị Kiều L đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt gồm 03 cuộn dây đồng loại 2.6mm, màu đỏ, có trọng lượng 11,31kg, không có yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự nên đề nghị không xem xét.
Tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Hữu D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Tây Ninh truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng.
. Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bị hại là Phan Thị Kiều L vắng mặt có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; người làm chứng vắng mặt đã có lời khai trong quá trình điều tra và họ không có yêu cầu nào khác đối với bị cáo nên việc vắng mặt những người này không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại và người làm chứng theo quy định tại Điều 292; Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Về nội dung:
. Hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và những người tham gia tố tụng khác cũng như những tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ là phù hợp. Theo đó xác định khoảng 01 giờ 00 phút ngày 12/03/2025, tại xưởng kéo sợi, khu xoắn đồng của Công ty trách nhiệm hữu hạn K, địa chỉ: Đường số C, khu công nghiệp T, ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là Đường số C, khu công nghiệp T, ấp B, xã Đ, tỉnh Tây Ninh) bị cáo Huỳnh Hữu D có hành vi lén lút chiếm đoạt của Công ty trách nhiệm hữu hạn K 01 cuộn dây đồng loại dây 2.6 mm, màu đỏ, có trọng lượng 11,31kg, trị giá 2.827.410 đồng thì bị bắt.
Hành vi của bị cáo Huỳnh Hữu D nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm hại đến tài sản hợp pháp của Công ty trách nhiệm hữu hạn K nên phải xử lý bằng pháp luật hình sự.
Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị cáo Huỳnh Hữu D đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, Cáo trạng 45/CT-VKSĐH ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Tây Ninh đã truy tố bị cáo D với tội danh và điều luật nêu trên là có cơ sở đúng theo quy định của pháp luật.
. Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo D là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là một công dân có đầy đủ lý trí để nhận thức được rằng tài sản hợp pháp của mọi tổ chức và cá nhân được pháp luật bảo vệ nếu người nào cố tình chiếm đoạt sẽ bị pháp luật xử lý nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý, mục đích của bị cáo là chiếm đoạt tài sản của bị hại để tiêu xài cho cá nhân. Hành vi của bị cáo phải được xử lý nghiêm.
Về tình tiết tăng nặng: không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo D đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và gây thiệt hại không lớn. Đồng thời, Công ty trách nhiệm hữu hạn K xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo D. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm i, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên khi áp dụng hình phạt cho bị cáo có xem xét giảm nhẹ một phần. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo Huỳnh Hữu D là có cơ sở theo quy định pháp luật.
. Về trách nhiệm dân sự: bị hại Công ty trách nhiệm hữu hạn K sau khi nhận lại tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án, không yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự, do đó không xem xét.
. Về xử lý vật chứng vụ án:
- Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành trao trả cho Phan Thị Kiều L là người đại diện theo ủy quyền của Công ty trách nhiệm hữu hạn K: 03 cuộn dây đồng loại 2.6mm, màu đỏ, có trọng lượng 11,31kg theo biên bản trả tài sản ngày 08/9/2025 nên không xem xét.
- Đối với xe mô tô Dream màu nâu, số khung 00588, số máy 0588, biển số 66F4-2048 là tài sản của bị cáo D mua lại của Nguyễn Văn H1 (không xác định nhân thân, lai lịch) vào khoảng tháng 3 năm 2023 với giá 5.000.000 đồng để sử dụng làm phương tiện để đi lại và không làm thủ tục sang tên chuyển quyền sở hữu, bị cáo sử dụng phương tiện này để cất giấu tài sản trộm cắp nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 con dao rọc giấy cán màu xanh không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy là hoàn toàn phù hợp.
. Về án phí: Bị cáo Huỳnh Hữu D phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: bị cáo Huỳnh Hữu D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Hữu D 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô loại Dream, số khung 00588, số máy 0588, biển số 66F4-2048.
- Tịch thu tiêu hủy 01 con dao rọc giấy cán màu xanh.
(Vật chứng hiện do Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3, tỉnh Tây Ninh đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 27/QĐ-VKSKV3 ngày 30/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Tây Ninh, đính kèm bảng thống kê vật chứng).
3. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Huỳnh Hữu D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh; - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Tây Ninh; - Công an tỉnh Tây Ninh; - Phòng THA dân sự khu vực 3; - Phân trai tam giam Hậu Nghĩa; - Bị cáo; - Bị hại. - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Nguyễn Thị Vụ |