- Tranh chấp gì? án hình sự — "các bị cáo: Nguyễn Phi H, Hoàng Hồng Q, Nguyễn Mạnh D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Lu…"
- Tòa quyết gì? Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 23/2025/HS-ST ngày 09 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Sông Lô (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11 – Phú Thọ) về hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Phi H, Hoàng Hồng Q, Nguyễn Mạnh D.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 82/2025/HS-PT Ngày: 09 - 9 -2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Văn Mạnh.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Sơn;
Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hà - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Mầu Mai Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 122/2025/TLPT-HS ngày 23 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo Nguyễn Phi H, Hoàng Hồng Q, Nguyễn Mạnh D do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2025/HS-ST ngày 09 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Sông Lô (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11 – Phú Thọ) theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 150/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2025.
Bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Phi H, sinh ngày 23/6/2006; Nơi cư trú: Thôn C, xã P, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (Nay là Thôn C, xã H, tỉnh Phú Thọ); Dân tộc: Kinh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Tiến Đ và bà Nguyễn Hồng T; vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 14/11/2024 đến ngày 27/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn, hiện tại ngoại tại địa phương, có mặt tại phiên tòa.
2. Hoàng Hồng Q, sinh ngày 25/01/2006; Nơi cư trú: Thôn T, xã L, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (Nay là Thôn T, xã Y, tỉnh Phú Thọ); Dân tộc: Kinh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 10/12; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; con ông: Hoàng Văn Đ1 và bà Nguyễn Thị T1; vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 14/11/2024 đến ngày 27/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn, hiện tại ngoại tại địa phương, có mặt tại phiên tòa.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo Q: Ông Hồ Hữu P, sinh năm 1974 – Luật sư Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
3. Nguyễn Mạnh D, sinh ngày 23/02/2006; Nơi cư trú: Thôn T, xã L, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (Nay là Thôn T, xã Y, tỉnh Phú Thọ); Dân tộc: Kinh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 09/12; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; con ông: Nguyễn Ngọc L và bà Trần Thị H1; vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 14/11/2024 đến ngày 27/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn, hiện tại ngoại tại địa phương, có mặt tại phiên tòa.
Trong vụ án còn có một số bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không có kháng cáo, không liên quan tới kháng cáo, Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mâu thuẫn với nhóm thanh niên ở xã N, huyện S - Vĩnh Phúc (nay là thị trấn T, tỉnh Phú Thọ) nhưng không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể là ai nên Nguyễn Phi H cùng nhóm bạn là Hoàng Hồng Q và Nguyễn Mạnh D hẹn nhau tối thứ bảy sẽ đi tuần ngoài đường xuống mạn dưới xã N và nếu gặp nhóm thanh niên trên sẽ đánh nhau. Khoảng 20 giờ 00 ngày 28/9/2024, H nhắn tin rủ Q đi đánh nhau, H bảo Q chuẩn bị đồ (hung khí) để mang đi đánh nhau. Sau đó, H một mình điều khiển xe mô tô Honda AirBlade, màu sơn Đen - Trắng, BKS 88L1 – 403.61 đi đến xã L để đón nhóm bạn đi đánh nhau. Thấy H rủ đi đánh nhau thì Q cũng nhắn tin cho D rủ đi tham gia đánh nhau và D đồng ý. Sau đó, D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu AirBlade, màu đen, BKS 88C1 - 383.93 đi đến đón Q, Q nhắn tin cho H hỏi đang ở đâu thì H bảo đang ở đường B. Khi này Q bảo D mở cốp xe ra rồi Q đến nhà kho của Nhà văn hóa thôn T9 nằm cạnh Nhà văn H2, Q lấy 02 vỏ chai bia Hà Nội đã cất sẵn từ trước ở đó và bỏ vào cốp xe, sau đó D chở Q đi đến chỗ H đợi. Khi gặp nhau H bảo Q “Về lấy thêm cái tuýp sắt” thì D chở Q về sân kho nhà Văn hoá thôn T lấy 01 đoạn gậy kim loại, màu xám - trắng dài khoảng 03m, đường kính khoảng 02cm rồi Q bảo D tiếp tục chở đi ra Nhà đa năng (Trung tâm văn hóa xã L) để lấy thêm 07 vỏ chai bia nữa cất vào cốp xe của D, sau đó D chở Q đến chỗ của H. Quá trình đợi D và Q đi lấy hung khí, H gọi điện cho Nguyễn Hoàng L1 SN 2006, ở thôn C, xã P, huyện S (khi đó L1 đang uống nước ở xã L), H rủ L1 đồng ý cùng đi tham gia đánh nhau, L1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS 88D1 - 553.68 đi đến chỗ H đợi. Tại đây Q bảo với nhóm bạn là đợi để Q rủ thêm Trung Minh Q1, SN 2008 ở thôn Đ, xã Q, huyện S (nay là xã Y, tỉnh Phú Thọ) và Nguyễn Khánh D1, SN 2007 ở thôn Y, xã L (nay là xã Y, tỉnh Phú Thọ) cùng tham gia. Q mượn điện thoại của D gọi điện cho Q1 rủ đi đánh nhau thì Q1 đồng ý; Q tiếp tục gọi điện cho D1 rủ đi đánh nhau và D1 cũng đồng ý. Tiếp đó, Q mượn xe của D đi đến xã Q, huyện S đón Q1 xong chở quay lại chỗ mọi người đợi. Khi này H bảo nhóm bạn đợi H đi đón Nguyễn Trung T2, SN 2006 ở thôn N, xã P (nay là xã H, tỉnh Phú Thọ) nhưng khi đến nhà thì T2 đi vắng nên H gọi điện bảo nhóm của Q đi đến đèn xanh - đỏ ở xã Đ (nay thuộc xã T, tỉnh Phú Thọ) để đợi. Trong thời gian đó, L1 chở Q1 đi đến đón D1 ở nhà tại thôn Y, xã L (nay là xã Y, tỉnh Phú Thọ) xong đi thẳng về phía xã Đ. Đến khoảng gần 21 giờ cùng ngày xe L1 chở Q1 và D1 đi đến khu vực cầu Đ thuộc thôn Đ, xã P (nay là xã H) thì gặp H tại đây. Khoảng 02 phút sau thì D cũng chở Q cầm theo gậy sắt đi đến, D1 chuyển sang ngồi xe của H, Q chia cho Q1 cầm 04 vỏ chai bia và D1 cầm 02 vỏ chai bia, còn Q cầm 03 vỏ chai bia và chiếc gậy sắt với mục đích nếu gặp nhóm thanh niên xã N sẽ ném vỏ chai bia và đánh nhau với họ. Sau khi đã sắp xếp xong, H và nhóm bạn di chuyển đi về hướng xã N. Trên đường đi đến khu vực chợ xã Đ thì gặp Phạm Phi N SN 2007 ở thôn Đ, xã Đ đang đi xe mô tô Honda Wave, BKS 88C1 376.23 chở Nguyễn Văn T3 SN 2009 ở cùng thôn và đi ngược chiều với nhóm của H. Thấy vậy, D gọi T3 “Ới hai thằng kia”, nghe thấy D gọi thì T3 bảo N quay xe lại đi theo cùng với nhóm của H. Trên đường đi nhóm của H có nói cho N, T3 biết là đi đánh nhau và cả hai đều đồng ý. Nhóm H di chuyển về phía xã N rồi đi qua đài tưởng niệm huyện S và rẽ vào đường bê tông nhỏ thì dừng lại cho Q xuống cất giấu chiếc gậy sắt ở bụi cây ven đường. Lúc này Quảng chia cho T3 cầm 02 vỏ chai bia rồi cả nhóm di chuyển đến khu vực quảng trường S và đi theo hướng đường mới ra xã T, huyện S (nay là xã T, tỉnh Phú Thọ). Khi ra đến ngã ba xã T thì cả nhóm đi theo hướng TL307 qua trụ sở UBND xã N rồi lại vòng rẽ vào đường đài tưởng niệm huyện S nhưng không gặp ai, cả nhóm tiếp tục đi hết đường rẽ về phía bến xe khách huyện S.
Về nhóm thanh niên ở N, huyện S (nay là xã T, tỉnh Phú Thọ) gồm có: Lê Gia B SN 2007; Lê Anh P1 SN 2007; Lê Đức T4 SN 2009; Lê Mạnh C SN 2010 đều cư trú ở xã N cùng nhau đi uống nước ở cổng Trung tâm y tế huyện S và có nói chuyện về việc mâu thuẫn với nhóm thanh niên ở xã Đ (nay là xã S, tỉnh Phú Thọ) (nhưng không rõ là những ai), cả nhóm hẹn nhau tối thứ 7 tức ngày 28/9/2024 sẽ đi lượn ngoài đường để tìm đánh nhau với nhóm thanh niên xã Đ. Khoảng hơn 20 giờ ngày 28/9/2024, Lê Anh T5 SN 2007 cư trú thôn L, xã N có gọi điện qua Messenger cho Trần Ngọc H3 SN 2007 ở thôn C, xã N và Lê Anh P1, T5 rủ H3 và P1 đi đánh nhau thì cả hai đồng ý, T5 tiếp tục gọi điện cho Lê Gia B nhưng B không nghe máy. Khi này Trần Minh Đ2, SN 2007 ở thôn L, xã N đi đến nhà T5 chơi. Thấy T5 rủ đi đánh nhau thì H3 có gọi điện cho Trần Đức T6, SN 2007 cư trú thôn H, xã N và rủ T6 đi sang đón H3 để đi đánh nhau, H3 tiếp tục gọi điện cho Lê Gia B nhưng vẫn không thấy B nghe máy. Một lúc sau T6 đi xe mô tô nhãn hiệu SH mode màu đen, BKS 88C1 - 107.03 đi đến nhà H3 đón H3. Cùng thời điểm đó Lương Thế Q2, SN 2009, lái xe mô tô Honda Dream, BKS 88B1 – 242.53 chở Khổng Gia H4, SN 2009, đều ở xã T đi chơi. Khi đi đến cây xăng xã N thì H4 nhặt được 01 kiếm nhựa đồ chơi dài khoảng 25cm rồi cầm ở tay mang theo đi ra cổng Trung tâm y tế huyện S để gặp Lê Hồng P2, SN 2007 và Nguyễn Minh H5, SN 2007 đều cư trú xã N ở đây, sau đó cả nhóm cùng đi vào nhà Lê Anh T5 chơi. Khi đi đến cổng nhà T5 thì gặp H3 và T6, H3 gọi điện cho Lê Văn K SN 2007 ở thôn C, xã N rủ đi đánh nhau, K đồng ý và cầm theo 01 gậy bóng chày bằng kim loại màu đen đã được chuẩn bị từ trước đó, H3 điều khiển xe của T6 đến đón K ra nhà T5. Tại đây T5 và K đi lấy hung khí mà trước đó đã được cất giấu ở đồi nhà T5, T5 cầm 01 thanh sắt có một đầu hàn con dao bầu dài khoảng 03m (dao phóng lợn) và 01 thanh sắt dài khoảng 01m, K cầm 01 con dao quắm mang ra chỗ mọi người đợi. Khoảng hơn 20 giờ 30 phút cùng ngày thì T5, Đ2, T6, H3, K, P2, H5, Q2, H4 và Lê Anh P1 đi xe mô tô Honda Vison màu xanh - xám, BKS 88AB - 961.50 cùng nhau xuất phát từ cổng nhà T5 để đi đánh nhau, P1 lái xe chở T5 cầm 01 dao phóng lợn và K cầm 01 gậy bóng chày; T6 lái xe chở H3 ngồi giữa cầm dao quắm và Đ2 ngồi sau cầm thanh sắt; Q2 lái xe chở H4 cầm 01 kiếm nhựa rồi đi đến đường dân sinh cạnh Trung tâm y tế S đợi xe của Lê Gia B và P2, H5 cũng đi theo ra. Một lúc sau thì T4 chở C và B đi đến, B đeo 01 túi gậy Bi-a ở sau lưng, T5 và cả nhóm thống nhất đi xuống hướng xã Đ để tìm nhóm thanh niên nào ngứa mắt thì sẽ đánh nhau. Khi này H5 và P2 không tham gia nên lái xe đi về; P1 lái xe V chở T5 cầm 01 dao phóng lợn và K cầm 01 gậy bóng chày; T6 lái xe SH mode chở H3 ngồi giữa cầm dao quắm và Đ2 ngồi sau cầm thanh sắt; T4 lái xe Honda Wave, BKS 88C1 – 395.89 chở C ngồi giữa cầm 01 kiếm nhựa (khi bắt đầu đi thì H4 đưa kiếm nhựa lại cho C); Q2 lái xe D2 chở H4 không cầm gì. Cả nhóm đi thẳng theo hướng ra đường tránh đi qua Kho bạc huyện S rồi rẽ trái đi theo tuyến đường chạy xuống cao tốc đến xã N (nay là thị trấn T) và qua xã Đ, huyện S (nay là xã S, tỉnh Phú Thọ) thì không gặp nhóm thanh niên nào, cả nhóm tiếp tục đi theo hướng ra xã Đ. Khi đến đường Đ thì cả nhóm rẽ trái ra đầu cầu V rồi quay lại đi theo đường đê hướng về thị trấn T, khi đi qua quán nước “Quán Không Tên” của chị Phan Thị T7, SN 1989 ở thôn T, xã Đ (nay là xã S) nằm cách cầu V khoảng 100m thì xe P1 thấy một nhóm thanh niên khoảng 07 - 08 người đang ngồi uống nước ven đường đối diện với quán, P1 cho quay xe lại định nhìn xem nhóm thanh niên này là ai thì những thanh niên kia thấy vậy bỏ chạy đi vào trong quán đối diện, thấy vậy P1 quay đầu xe đi theo đường đê hướng về thị trấn T. Khi đi đến xã T (nay là xã S) thì nhóm dừng lại để hút thuốc lá, do không có bật lửa nên Lê Gia B nói với mọi người là sẽ đi trước để tìm xin lửa, sau đó T4 chở C và B đi về trước, còn Q2 chở H4 đi về sau xe của T4 một lúc. Khi xe của T4 chở C, B đi đến đường đôi gần Bến xe khách S thì gặp nhóm thanh niên của Nguyễn Phi H đang đi 04 xe mô tô kẹp hai ở phía đường đối diện.
Khi nhóm của Nguyễn Phi H đang đi theo hướng lên đầu đường đê xã P (nay là xã H) thì nhìn thấy xe của Lê Đức T4 chở Lê Mạnh C và Lê Gia B đi ngược chiều với nhóm của H, Nguyễn Mạnh D có hô lên “đây rồi”. Thấy vậy nhóm của H liền tăng tốc xe phóng nhanh để dồn đuổi theo xe mô tô của T4, nhóm của H cầm theo vỏ chai bia phóng nhanh đến ngã tư gần sân vận động thị trấn T thì quay lại và tăng ga phóng nhanh hò hét dồn đuổi theo xe của T4. Khi này T4 cũng tăng ga cho xe chạy tốc độ cao, hai nhóm dồn đuổi nhau theo hướng đến ngã tư sân vận động huyện S thì xe của T4 rẽ trái vào đường hướng đi xã N (qua đài tưởng niệm), nhóm của H tiếp tục đuổi theo. Khi chạy hết đoạn đường trên thì xe T4 rẽ phải về phía ngã ba N. Lúc này xe của D chở Q, xe L1 chở Q1 tiếp tục bám đuổi theo sau xe của T4, còn xe của H chở D1 và N chở Trường quay lại để đi theo lối tắt qua đường bê tông nhằm đón đầu xe của T4. Khi xe của T4 đến ngã ba N thì rẽ về hướng Trung tâm y tế huyện S, còn xe của D và xe của L1 tiếp tục phóng nhanh dí đuổi theo sát với xe T4, khi đến cổng Trung tâm y tế huyện S thì T4 phóng xe vào trong cổng, xe của D và xe L1 phóng nhanh đến cổng Trung tâm y tế huyện S thì rú ga gây ra tiếng ồn ầm ĩ tại đây. Sau đó L1 tiếp tục phóng xe nhanh về phía Ủy ban nhân dân huyện S, còn xe của D chở Q đi chậm lại nhưng vẫn rú ga kêu ầm ĩ. Khi thấy Lê Gia B cầm gậy B1-a ở tay đi ra đứng gần lề đường thì D chở Q phóng nhanh về phía Ủy ban nhân dân huyện R quay xe đến chỗ cất giấu chiếc gậy sắt để cầm lấy mang ra mục đích đánh nhau với nhóm của B. Khi đó B cùng T4, C đi ra quán nước của ông Nguyễn Văn H6 SN 1974 cư trú thôn Q, xã Đ, huyện S ( nay là xã S) nằm đối diện với cổng Trung tâm y tế huyện S. Tại đây có Lê Văn Đ3 SN 2007, Nguyễn U G SN 2007 và Nguyễn Hải N1 SN 2008 đều cư trú xã N đang ngồi uống nước ở quán ông H6. Khi này xe của L1 chở Q1 đi đến vị trí cách quán nước ông H6 khoảng 100m thì tụ tập cùng với xe của H chở D1, N chở T3 tiếp tục rú ga đi vòng tròn trên lòng đường và hò hét ầm ĩ nhằm đợi cho xe của D chở Q đi lấy gậy sắt. Thấy vậy B tay vẫn cầm gậy B1-a (B khai sợ bị đánh nên cầm để phòng vệ) đứng gần ra lòng đường nhìn quan sát theo nhóm của H. Khi D chở Q đến vị trí lấy gậy xong, Q bảo D mở cốp xe cất 03 vỏ chai bia vào cốp, D chở Q cầm chiếc gậy sắt bằng 02 tay đi quay lại vị trí nhóm H đợi, sau đó D chở Q phóng nhanh về phía quán nước vị trí mà B đang đứng và những xe còn lại của nhóm H cũng phóng nhanh, đều rú ga, hò hét và bấm còi xe ầm ĩ để đi đến nhằm đánh B, D chở Q ngồi sau tay cầm gậy sắt quệt một đầu gậy xuống đường gây ra tiếng kêu và những tia lửa toé lên, khi xe của D phóng nhanh áp sát chỗ B đứng thì B liền chạy lên vỉa hè vị trí có bàn uống nước của quán ông H6, Q liền vung gậy sắt vụt về phía xe của T4 đang dựng tại ven đường nhưng không trúng và gậy bị trượt va xuống đường, nhóm của H cũng phóng nhanh đi đến và Ngọc G1 lấy vỏ chai bia từ tay của T3 rồi cầm ném mạnh về phía nhóm của B nhưng không trúng ai, vỏ chai bia bị trượt rơi xuống đường gần với vị trí chân B thì bị vỡ bắn tung toé mảnh thuỷ tinh ra, sau đó nhóm của H tiếp tục cho xe phóng nhanh về phía ngã ba N và rẽ theo hướng đường đi xã Đ, huyện S (nay là xã T). Trên đường đi về, Q1, D1 và T3 vứt bỏ vỏ chai bia; còn Q mang gậy sắt và 03 vỏ chai bia về giấu ở sân vận động X thì ai đi về nhà người đó.
Trong thời gian đó, nhóm của T5 và H3 đang di chuyển về phía thị trấn T thì H3 gọi điện cho T4 biết được việc xe của T4 bị nhóm của H dồn đuổi đánh, cả nhóm hướng quay về phía Trung tâm y tế huyện S. Đến nơi thì Q2 chở H4 đi về nhà luôn, khi xe của P1 chở T5, K và xe T6 chở H3, Đ2 đi đến thì T4 nói cho biết nhóm của H đã bỏ chạy và T4 đã báo Công an nên P1, T6 chở mọi người đến khu đồi sau nhà T5 vứt các hung khí (trước đó mang đi nhằm đánh nhau) ở đây rồi đi về nhà.
Ngay sau khi nhận được tin báo, Cơ quan CSĐT Công an huyện S đã tổ chức khám nghiệm hiện trường và thu giữ vật chứng; xác minh, trích xuất Camera an ninh của các hộ dân tại khu vực cổng Trung tâm y tế huyện S và theo những tuyến đường thị trấn T, xung quanh các xã Đ, N, N, Đồng T8 và Đức B2; ghi lời khai các đối tượng, người liên quan và nhân chứng.
Với nội dung trên, Bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2025/HS-ST ngày 09 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Sông Lô (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11 – Phú Thọ) đã tuyên bố các bị cáo Nguyễn Phi H, Hoàng Hồng Q, Nguyễn Mạnh D, Nguyễn Hoàng L1, Phạm Phi N, Nguyễn Khánh D1 và Trung Minh Q1 về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phi H 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Bị cáo H được trừ những ngày đã bị tạm giam từ 14/11/2024 đến ngày 27/01/2025.
Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo: Hoàng Hồng Q 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Bị cáo Q được trừ những ngày đã bị tạm giam từ 14/11/2024 đến ngày 27/01/2025.
Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh D 02 (Hai) năm 02 (Hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Bị cáo D được trừ những ngày đã bị tạm giam từ 14/11/2024 đến ngày 27/01/2025.
Ngoài ra, Ngoài ra, bản án còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo khác và quyết định về xử lý vật chứng, án phí, tuyên quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 13/5/2025 các bị cáo Nguyễn Phi H, Hoàng Hồng Q kháng cáo; ngày 20/5/2025, bị cáo Nguyễn Mạnh D có đơn kháng cáo, đều với nội dung xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Phi H, Hoàng Hồng Q, Nguyễn Mạnh D nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo Q, Luật sư P vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đề nghị tòa án xem xét tới nhân thân của bị cáo Q, bị cáo mới qua tuổi 18 nhận thức còn bồng bột để cho bị cáo hưởng án treo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Bị cáo Q xin được tự bào chữa tại phiên tòa cũng đề nghị được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu về đơn kháng cáo của các bị cáo; phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm của các bị cáo. Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo H, Q, D. Đề nghị tuyên bố các bị cáo Nguyễn Phi H, Hoàng Hồng Q, Nguyễn Mạnh D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Sông Lô (nay là Tòa án Khu vực 11 – Phú Thọ) đối với các bị cáo Nguyễn Phi H, Hoàng Hồng Q, Nguyễn Mạnh D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Phi H, Hoàng Hồng Q, Nguyễn Mạnh D làm trong hạn luật định, hợp lệ được xem xét giải quyết.
Về tố tụng: Cấp sơ thẩm trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự, các tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án đã đầy đủ, có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Nguyễn Phi H, Hoàng Hồng Q, Nguyễn Mạnh D giữ nguyên nội dung kháng cáo; đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã quy kết. Lời khai nhận của các bị cáo H, Q, D tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; với lời khai của các bị cáo khác trong vụ án; phù hợp với vật chứng, các kết luận giám định cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở để kết luận: Vì có mâu thuẫn từ trước với nhóm thanh niên xã N nhưng không rõ là ai; buổi tối ngày 28/9/2024 Nguyễn Phi H rủ Hoàng Hồng Q, Nguyễn Mạnh D và bảo Q, D chuẩn bị hung khí là gậy sắt và 09 vỏ chai bia thuỷ tinh và cùng Nguyễn Hoàng L1, Nguyễn Khánh D1, Trung Minh Q1, Phạm Phi N, Nguyễn Văn T3 tụ tập, để đi tìm đánh trả thù nhóm thanh niên xã N. Quá trình chuẩn bị đi đánh nhau, bị cáo Q còn rủ các đối tượng khác cùng tham gia, trong đó có D1 và Q1 (là người chưa thành niên); bị cáo D gọi các đối tượng T3, N (là người chưa thành niên) cùng tham gia đi đánh nhau. Các đối tượng này đã sử dụng phương tiện xe mô tô đi dàn ngang trên đường qua nhiều xã, rú còi, phóng nhanh để tìm đánh trả thù người mâu thuẫn và gây rối trật tự.
Khi phát hiện ra Lê Đức T4 điều khiển xe mô tô chở Lê Gia B, và Lê Mạnh C, đều ở xã N đang đi trên đường tại khu vực gần B xe khách huyện S, thuộc thôn B, thị trấn T, huyện S. Mặc dù không rõ T4, B và C là người có mâu thuẫn với mình không nhưng H và nhóm bạn vẫn phóng xe dồn đuổi đi nhanh với tốc độ cao, rú ga, rú còi, nẹt pô xe, hò hét và lạng lách trên đường gây cản trở giao thông, các đối tượng sử dụng gậy sắt, vỏ chai bia đều là hung khí nguy hiểm và dùng quẹt đầu gậy xuống đường, vụt vào xe tài sản của người khác, ném vỏ chai bia vào khu vực quán bán nước đang có đông người ở đó tại cổng Trung tâm y tế huyện S đã làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông, gây hoang mang lo sợ cho người dân xung quanh khu vực.
Với hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Phi H, Hoàng Hồng Q, Nguyễn Mạnh D về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 (dùng vũ khí, hung khí) Điều 318 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, không oan sai.
Hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến an toàn, trật tự công cộng, gây tâm lý lo sợ, bất bình trong quần chúng nhân dân nên cần phải được xử lý nghiêm minh mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Xét kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Nguyễn Phi H, Hoàng Hồng Q, Nguyễn Mạnh D, Hội đồng xét xử thấy rằng: các bị cáo Nguyễn Phi H, Hoàng Hồng Q, Nguyễn Mạnh D đều nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Phi H là người có vai trò chính, bị cáo H đã khởi xướng rủ rê các bị cáo Hoàng Hồng Q, Nguyễn Mạnh D, Nguyễn Hoàng L1 tham gia đánh nhau và gây rối trật tự công cộng; bị cáo Hoàng Hồng Q là người thực hiện tham gia tích cực như chuẩn bị hung khí là gậy sắt, vỏ chai bia cùng D; trực tiếp rủ rê các bị cáo Nguyễn Mạnh D, Nguyễn Khánh D1, Trung Minh Q1 (D1, Q1 là người chưa thành niên); bị cáo Nguyễn Mạnh D tích cực cùng Q lấy, chuẩn bị hung khí trên, rủ rê các bị cáo Nguyễn Văn T3 và Phạm Phi N (là người chưa thành niên) tham gia vào việc đánh nhau. Các bị cáo đi xe nhanh, nẹt bô, hò hét, ném vỏ chai bia… trên nhiều tuyến đường đi qua, nơi đông dân cư, nhiều người qua lại, ảnh hưởng đến đời sống nhiều người dân, đến an toàn, trật tự công cộng.
Trong vụ án, các bị cáo đều phạm tội lần đầu, chưa có tiền án tiền sự, thành khẩn khai báo được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bô luật hình sự; bị cáo Q có ông nội có công với nước được tặng Huân chương kháng chiến; bị cáo D có gia đình thờ cúng liệt sỹ được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên Q, D cũng phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đó là xúi giục người chưa thành niên phạm tội được quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất vu án, vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy bị cáo H vai trò người chủ mưu; bị cáo Q, H tham gia tích cực chuẩn bị công cụ phương tiện gậy sắt, vỏ chai bia chia cho các bị cáo khác để nhằm mục đích đánh nhau, gây rối và còn xúi giục người chưa thành niên phạm tội; Các tình tiết về nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đã được cấp sơ thẩm áp dụng đầy đủ; tại cấp phúc thẩm, các bị cáo không xuất trình thêm được tình tiết giảm nhẹ nào mới. Tòa án cấp sơ thẩm đã xử các bị cáo mức hình phạt tù (H, Q đều 02 năm 03 tháng tù; D 02 năm 02 tháng tù) trên mức khởi điểm của khung hình phạt là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo xin được hưởng án treo.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, được chấp nhận.
Kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Phi H, Hoàng Hồng Q, Nguyễn Mạnh D không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Phi H, Hoàng Hồng Q, Nguyễn Mạnh D.
Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 23/2025/HS-ST ngày 09 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Sông Lô (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11 – Phú Thọ) về hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Phi H, Hoàng Hồng Q, Nguyễn Mạnh D.
Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Phi H, Hoàng Hồng Q, Nguyễn Mạnh D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phi H 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giam từ 14/11/2024 đến ngày 27/01/2025.
- Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo: Hoàng Hồng Q 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giam từ 14/11/2024 đến ngày 27/01/2025.
- Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh D 02 (Hai) năm 02 (Hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giam từ 14/11/2024 đến ngày 27/01/2025.
3. Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội:
Các bị cáo Nguyễn Phi H, Hoàng Hồng Q, Nguyễn Mạnh D mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND khu vực 11 – Phú Thọ; - Công an tỉnh Phú Thọ; - TAND khu vực 11 – Phú Thọ; - Phòng THADS khu vực 11 – Phú Thọ; - Bị cáo; - Lưu Hồ sơ, HCTP, Toà HS | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Mạnh |