vanban.org

Bản án 82/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết N về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” đối với bị đơn ông Nguyễn Hữu T Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Tuyết N được ly hôn với ông Nguyễn Hữu T (Giấy chứng nhận kết hôn số 105, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân phường A, Thành phố Hồ C… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Nguyễn Thị Tuyết N và bị đơn Nguyễn Hữu T"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số 82/2025/HNGĐ -ST
Ngày 29/8/2025
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ

2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Anh Ly - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 337/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm: 1989, thường trú: Số C đường C, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh); tạm trú: Số A đường M, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh); có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm: 1980, thường trú: Số C đường C, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: Số A đường M, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/6/2025 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà N và ông Nguyễn Hữu T tự nguyện tìm hiểu nhau một thời gian thì tiến đến kết hôn vào năm 2009, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận kết hôn số 105, quyển số 01 ngày 14/5/2009. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung nên thường xảy ra cãi vã dẫn đến cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Nay bà N xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà N yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông T

+ Về con chung: Quá trình chung sống bà N, ông T 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Ánh D sinh ngày 02/4/2018 và Nguyễn Ngọc Ánh T1 sinh ngày 04/11/2008. Sau ly hôn, bà N yêu cầu là người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục hai cháu Ánh D và Ánh T1, bà N không yêu cầu ông T hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Quyền và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình tố tụng, bị đơn ông Nguyễn Hữu T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện do nguyên đơn cung cấp. Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn ông T để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 25/7/2025; tham gia phiên tòa vào ngày 14/8/2025 và ngày 29/8/2025 nhưng ông T vắng mặt không có lý do. Đồng thời, ông T cũng không có ý kiến, yêu cầu gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà N.

- Ngày 25/7/2025 Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, quá trình chung sống và vấn đề chăm sóc nuôi dạy con chung giữa bà N và ông T tại Hội liên hiệp phụ nữ phường D và được cung cấp như sau: Trước khi khởi kiện ly hôn tại Tòa án, bà N, ông T không có yêu cầu địa phương tổ chức hòa giải cơ sở. Quá trình chung sống thì vấn đề mâu thuẫn và nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn thì Hội liên hiệp phụ nữ phường không rõ vì không có thông tin cung cấp từ đại diện khu phố cũng như người dân phản ánh. Đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án theo quy định.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa đã tuân thủ đúng pháp luật về tố tụng dân sự, nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải; bị đơn ông Nguyễn Hữu T đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ các Điều 207, 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án không tiến hành hòa giải được và Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà N và ông T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 105, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân phường A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 14/5/2009 nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Bà N xác định quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do hai vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung nên thường xảy ra cãi vã. Nay bà N xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông T

Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt được mục đích đó vợ chồng cần phải thương yêu, tin tưởng, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Bà N xác định quan hệ hôn nhân của vợ chồng có nhiều mâu thuẫn và hiện cả hai đều không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Ông T đã được Tòa án triệu tập làm việc và tham gia hòa giải cũng như tham gia phiên tòa trong vụ án nhưng đều vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án cũng như không thể hiện ý muốn hòa giải đoàn tụ. Như vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa bà N, ông T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà N yêu cầu được ly hôn với ông T là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên là Nguyễn Ngọc Ánh D sinh ngày 02/4/2018 và Nguyễn Ngọc Ánh T1 sinh ngày 04/11/2008. Sau ly hôn, bà N cầu được là người trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu Nguyễn Ngọc Ánh D và Nguyễn Ngọc Ánh T1. Bà N không yêu cầu ông Nguyễn Hữu T hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với hai cháu Nguyễn Ngọc Ánh D và Nguyễn Ngọc Á T1.

Quá trình chung sống bà N, ông T 02 con chung tên là Nguyễn Ngọc Ánh D sinh ngày 02/4/2018 và Nguyễn Ngọc Ánh T1 sinh ngày 04/11/2008. Việc giao con chung cho ai nuôi dưỡng cần phải xem xét về mọi mặt và quyền lợi của con chưa thành niên. Xét thấy, quá trình tố tụng tại Tòa án, ông T vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý chí mong muốn được nuôi con chung. Tại bản tự khai ngày cùng 18/7/2025 cháu Ánh T1 và cháu Ánh D có nguyện vọng ở cùng bà N. Để bảo đảm quyền lợi của phụ nữ và con khi ly hôn, cần giao con chung cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của bà N về việc được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Ghi nhận sự tự nguyện của bà N yêu cầu ông T dưỡng nuôi 02 con chung.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An về việc giải quyết vụ án.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Tuyết N phải chịu án phí theo quy định của của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và các Điều 227, 228, 238, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết N về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” đối với bị đơn ông Nguyễn Hữu T

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Tuyết N được ly hôn với ông Nguyễn Hữu T (Giấy chứng nhận kết hôn số 105, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân phường A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp vào ngày 14/5/2009).

- Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Ánh D sinh ngày 02/4/2018 và Nguyễn Ngọc Ánh T1 sinh ngày 04/11/2008 cho bà Nguyễn Thị Tuyết N người trực tiếp nuôi dưỡng, giao dục con chung. Ghi nhận sự tự nguyện của bà N không yêu cầu ông T hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Tuyết N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004760 ngày 13/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương (nay là phòng Thi hành án dân sự khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh).

3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ