- Tranh chấp gì? án hình sự — "ma tuy - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 82/2024/HS-ST Ngày 12 - 4 - 2024 |
NHÂN DA
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Ngọc Phƣơng;
2. Bà Võ Thị Thu Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Tấn – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Sỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 71/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 77/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Lê Văn D (tên gọi khác: D Líp), sinh năm 1978 tại tỉnh Bình Dƣơng; nơi cƣ trú: 215 khu phố Nguyễn Trãi, phƣờng Lái Thiêu, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Vân (đã chết) và bà Trần Thị Chung, sinh năm 1940;
Tiền án: Ngày 14/11/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 294/2019/HSST, chấp hành án tại Trại giam Phú Hòa, đến ngày 03/02/2022 chấp hành xong hình phạt tù, chƣa đƣợc xóa án tích.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 10/12/2002, bị đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 1034/QĐ-CT của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Ngày 30/7/2009, bị đƣa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc theo Quyết định số 1164/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ngày 14/12/2012, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo Bản án số 329/2012/HSST, chấp hành án tại Trại giam Huy Khiêm, đến ngày 28/10/2014 chấp hành xong đã đƣợc xóa án tích theo quy định.
- Ngày 31/8/2015, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 02 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo Bản án số 281/2015/HSST, chấp hành án tại Trại giam An Phƣớc, đến ngày 09/01/2017 chấp hành xong đã đƣợc xóa án tích theo quy định.
- Ngày 01/6/2018, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 40/2018/QĐ-TA của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, chấp hành xong ngày 16/6/2019.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/02/2023.
2. Nguyễn Thế H, sinh năm 1987 tại tỉnh Hà Tĩnh; nơi cƣ trú: Thôn Xuân Lộc 1, xã Đắk Sắk, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thế Đức, sinh năm 1945 và bà Nguyễn Thị Lân, sinh năm 1948; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 27/9/2006, bị Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 24/2006/HSST, đã đƣợc xóa án tích theo quy định.
- Ngày 02/3/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 24/2012/HSST, đã đƣợc xóa án tích theo quy định.
- Ngày 02/8/2013, bị Tòa án nhân dân Quận (nay là thành phố) Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 204/2013/HSST.
- Ngày 08/7/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp với Bản án 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo Bản án số 204/2013/HSST của bị Tòa án nhân dân Quận (nay là thành phố) Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, đã chấp hành xong hình phạt đã đóng án phí theo quy định.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/02/2023.
3. Nguyễn Vƣơng Mỹ P, sinh năm 1990 tại tỉnh Bình Dƣơng; nơi cƣ trú: 193/4 tổ 1, khu phố Hòa Long, phƣờng Lái Thiêu, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đông (đã chết) và bà Vƣơng Thị Mỹ Hạnh; bị cáo có cHtên Nguyễn Trung Thảo, sinh năm 1986 và 01 ngƣời con; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 12/11/2014, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 06 tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 01 năm về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 409/2014/HSST, đã đƣợc xóa án tích theo quy định.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/02/2023.
4. Đoàn Mạnh C, sinh năm 1992 tại tỉnh Nghệ An; nơi cƣ trú: Thôn Đông Hòa, xã Tân Hòa, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Ghi, sinh năm 1973 và bà Lê Thị Mến, sinh năm 1973; tiền án: Ngày 03/6/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 127/2019/HSST, chấp hành xong hình phạt tù, chƣa chấp hành xong án phí; tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/02/2023.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1986; trú tại: Ấp T, xã M, huyện D, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Bùi ThA H, sinh năm 1988; Nơi đăng ký HKTT: K 2, phƣờng T, quận Thốt N, Thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
2. Nguyễn HA, sinh năm: 1998; Nơi đăng ký HKTT: 905/3, Lâm Quang K, phƣờng V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Vắng mặt.
3. Ông Trần Mạnh L, sinh năm: 1992; Nơi đăng ký HKTT: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
4. Bà Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1959; trú tại: Ấp 1, xã P, huyện D, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
5. Phạm Thị H V; trú tại: 557/14/5, đƣờng 10, phƣờng 8, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
6. Bà Lại Thị Mỹ T, sinh năm 1985; trú tại: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; tạm trú: 5/223 khu phố H, phƣờng T, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.
7. Ông Nguyễn Ngọc V, sinh năm 1979; trú tại: Ấp T, xã T, huyện D, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
8. Ông Đặng Kim Q, sinh năm 1984; trú tại: Thôn V, xã B, huyện H, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Lê Văn D, Nguyễn Vƣơng Mỹ P, Đoàn Mạnh C, Nguyễn Thế H là bạn bè quen biết ngoài xã hội, không có việc làm ổn định, D và P sống chung với nhau nhƣ vợ cHtại phòng trọ số 7, cơ sở trọ số: 5/223, khu phố Hòa Lân 1, phƣờng Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng nhƣng không đăng ký kết hôn. Quá trình sinh sống tại đây, H và C thƣờng xuyên đến phòng trọ của D để chơi. Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên D và C đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản là xe mô tô để sử dụng và bán lại cho ngƣời khác để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Ngoài ra, D, C, H, P cùng thỏa thuận với nhau về việc sẽ mua lại xe mô tô từ các đối tƣợng trộm cắp khác để bán lại cho ngƣời khác nhằm chia nhau hƣởng tiền lời.
Thực hiện ý định trên, vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 24/02/2023, C điều khiển xe mô tô gắn biển số 59V2 - 275.15 của C chở D ngồi phía sau đi từ phòng trọ của D đến khu vực thuộc phƣờng Hiệp An, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng để tìm kiếm tài sản sơ hở của ngƣời khác chiếm đoạt. Khi đi đến cơ sở trọ tại địa chỉ: 975/8 khu phố 9, phƣờng Hiệp An, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng thì phát hiện bên trong đƣờng hành lang nhà trọ có dựng 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter màu xA, biển số 83P2-947.77 của bà Đỗ Thị T. Lúc này, C dừng xe mô tô bên ngoài cổng cơ sở trọ để chờ và cảnh giới cho D đi vào bên trong, kiểm tra xe không khóa cổ nên D dắt xe mô tô ra khỏi cổng nhà trọ, ngồi lên xe mô tô vừa chiếm đoạt để C dùng chân đạp vào gác ba ga xe mô tô đẩy xe mô tô trên cùng D rời khỏi hiện trƣờng. Sau khi đi đƣợc khoảng 01 km thì C và D dừng xe trên lề đƣờng để mở ổ khóa xe mô tô nhƣng không mở đƣợc nên C gọi điện thoại nhờ đối tƣợng tên Quyết (không rõ nhân thân, địa chỉ) đến để mở ổ khóa xe mô tô vừa chiếm đoạt đƣợc. Khoảng 30 phút sau, Quyết điều khiển xe mô tô (không rõ đặc điểm, biển số) đến chỗ hẹn, Quyết tháo dây điện ổ khóa xe mô tô D và C vừa chiếm đoạt đƣợc và khởi động đƣợc xe mô tô trên rồi Quyết trực tiếp điều khiển chiếc xe này, C thì điều khiển xe của Quyết, còn D thì điều khiển xe mô tô của C tất cả cùng đi về phòng trọ của D. Tại đây, C tháo biển số 83P2-947.77 của xe mô tô vừa chiếm đoạt đƣợc thay bằng biển số xe 64B1-361.75 nhặt đƣợc trƣớc đó ở bãi đất khu vực trƣớc dãy trọ để tránh bị phát hiện.
Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 25/02/2023, H điều khiển xe mô tô gắn biển số 59N2-981.37, C điều khiển xe mô tô gắn biển số 59V2 - 275.15 đi đến phòng trọ của D để chơi. Đến khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày thì có đối tƣợng tên Dƣơng (không rõ nhân thân, địa chỉ) và đối tƣợng tên Bách (không rõ nhân thân, địa chỉ) điều khiển 01 xe mô tô nhãn hiệu hiệu Honda, loại Winner màu xA trắng (xe không gắn biển số) đến phòng trọ của D để chào bán xe mô tô mới chiếm đoạt đƣợc với giá 6.000.000 đồng. Lúc này, C, D, H, P biết rõ chiếc xe này do trộm cắp của ngƣời khác mà có nhƣng vẫn đồng ý mua bán để kiếm lời. Sau khi cả nhóm kiểm tra xe mô tô xong thì H đề nghị mua xe mô tô với giá 4.000.000 đồng thì Dƣơng đồng ý. Lúc này, H góp 700.000 đồng, D 500.000 đồng, C 2.800.000 đồng, P không góp tiền, sau khi nhận đƣợc tiền thì Dƣơng, Bách rời đi. Sau đó, C lấy biển số xe 68X1 - 506.46 gắn vào xe mô tô vừa mua của Dƣơng và Bách để tránh bị phát hiện. Cùng ngày, C, D, H, P đăng thông tin chào bán 02 chiếc xe mô tô trên (gồm 01 chiếc đã chiếm đƣợc của bà T ở địa bàn Thủ Dầu Một vào ngày 24/02/2023 và 01 chiếc tiêu thụ lại của Dƣơng và Bách vào ngày 25/02/2023) thì có đối tƣợng tên Cảnh liên hệ đề nghị xem xe trƣớc khi mua. Theo đó, D điều khiển chiếc xe mô tô loại Exciter màu xA gắn biển số 64B1-361.75, C điều khiển xe mô tô Honda, loại Winner màu xA trắng gắn biển số 68X1 - 506.46 nhặt đƣợc trƣớc đó ở khu vực trƣớc dãy trọ đến khu vực phƣờng Lái Thiêu để gặp cho Cảnh xem xe, nhƣng sau khi xem xong thì Cảnh không đồng ý mua nên C và D lại điều khiển xe mô tô đi về phòng trọ của D.
Tại đây, D kêu H tìm ngƣời để bán xe mô tô Exciter màu xA gắn biển số 64B1-361.75 thì H liên hệ bán xe mô tô trên cho Quyết với giá 6.000.000 đồng, thì Quyết đồng ý mua và đƣa trƣớc cho H số tiền là 5.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền H chia cho D số tiền 500.000 đồng, đƣa cho C số tiền 2.800.000 đồng số tiền còn lại H cất giữ để tiêu xài cá nhân. Đến khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, H và C tiếp tục điều khiển xe mô tô đi đến phòng trọ của D và P chơi đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 26/02/2023, thì bị Công an phƣờng Thuận Giao, thành phố Thuận An kiểm tra hành chính thu giữ các tang vật, C, D, H, P không cung cấp đƣợc nguồn gốc của những chiếc xe mô tô trên nên lực lƣợng Công an đƣa các đối tƣợng về trụ sở để làm việc, qua làm việc C, D, H, P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nhƣ đã nêu trên.
Ngoài ra, C còn khai nhận ngoài hai lần thực hiện hành vi phạm tội nhƣ trên, vào ngày 15/02/2023 C còn thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu đỏ-đen, số khung: AY345610, số máy: 5C64345615 (không rõ biển số) cùng đối tƣợng tên Tín tại một quán nhậu không rõ tên ở khu vực gần Ngã tƣ Bình Thung, phƣờng Tân Đông Hiệp, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Sau khi chiếm đoạt đƣợc tài sản, C đã lấy biển số 59V2 - 275.15 tại khu vực phía sau phòng trọ của D để gắn vào làm phƣơng tiện sử dụng đi lại. Công an phƣờng Thuận Giao lập hồ sơ và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An để giải quyết theo thẩm quyền.
Xét thấy có căn cứ phạm tội, ngày 09 tháng 3 năm 2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can, Lệnh tạm giam đối với Lê Văn D, Nguyễn Vƣơng Mỹ P, Đoàn Mạnh C, Nguyễn Thế H về tội “Tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trong quá trình điều tra, ngày 01 tháng 7 năm 2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can đối với Đoàn Mạnh C, Lê Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đồng thời, có Công văn đề nghị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một chuyển hồ sơ vụ án đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An nhập chung với vụ án “Tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có” để xử lý theo quy định.
* Tang vật thu giữ:
- 01 (một) xe máy kiểu dáng Honda Winner màu xA trắng, gắn biển số 68X1 - 506.46, số khung: RLHKC2609GY050460, số máy: KC26E1080504.
- 01 (một) xe máy kiểu dáng Honda Winner màu đen, gắn biển số 59N2-981.37, số khung: RLHKC2601GY034415, số máy: KC26E1056813;
- 01 (một) xe máy kiểu dáng Yamaha Sirius màu đỏ đen, gắn biển số 59V2 - 275.15, số khung: RLCS5C640AY345610, số máy: 5C64345615;
- 01 (một) xe máy kiểu dáng SYM màu đen, gắn biển số: 92H7-1217, số khung: RLGSC10GH8H002563, số máy: VMSACAH002563;
- 01 (một) biển số xe máy 93F1-233.45;
- 03 (ba) đoạn kim loại tròn một đầu mài dẹp (thƣờng gọi là đoản bẻ khóa xe máy);
- 01 (một) một con dao tự chế làm bằng kim loại dài 30cm, cán đƣợc ốp nhựa màu vàng đen;
- 01 (một) bình xịt hơi cay;
- 01 (một) con dao tự chế làm bằng kim loại dài 42cm, cán dao làm bằng gỗ;
- 01 (một) một áo công trình loại áo dạ quang màu vàng xA bên trên có in chữ GG1;
- 01 (một) chứng minh nhân dân tên Nguyễn Hoàng Gia Bảo;
- 01 (một) chứng minh nhân dân tên Đinh Thị Mai Hƣơng;
- 01 (một) giấy phép lái xe tên Nguyễn Văn Hiếu;
- 01 (một) giấy phép lái xe tên Đinh Thị Mai Hƣơng;
- 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe máy biển số 36AA-077.55;
- 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng VIVO Y01 màu xA;
- 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Realme C35 màu đen, số IMEI1: 864945060374932, số IMEI2: 864945060374924 bên trong có chứa sim số: 0922120738;
- 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Meizu m3 note màu vàng trắng, số IMEI 1: 860923036463786, số IMEI2: 860923036463794 bên trong không gắn sim số;
- 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng VIVO Y01 màu xA, số IMEI1: 866816052948660, số IMEI2: 866816052948678 bên trong có chứa sim số: 0937685282;
- 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy A51, kiểu máy: SM-A325F/SD, số Imel: 355870660553238 màu xA đen;
- 01 (một) điện thoại hiệu SamSung màu đen.
Tại Biên bản định giá tài sản và Bản kết luận định giá tài sản ngày 27/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thủ Dầu Một kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu xA bạc đen, biển số 83B2-947.77 trị giá 23.000.000 đồng.
Tại Biên bản định giá tài sản và bản kết luận định giá tài sản ngày 08/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thuận An kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Winner, màu xA trắng, biển số 65F1-387.78 trị giá 21.000.000 đồng.
Cáo trạng số 02/CT-VKS-TA ngày 18/12/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố các bị cáo Lê Văn D, Đoàn Mạnh C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 và các bị cáo Lê Văn D, Nguyễn Vƣơng Mỹ P, Đoàn Mạnh C, Nguyễn Thế H về tội “Tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định nhƣ bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lê Văn D Từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có”. Đề nghị Hội đồng xét xử tổng hợp hình phạt chung theo quy định.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đoàn Mạnh C từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 01(một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội” mà có. Đề nghị Hội đồng xét xử tổng hợp hình phạt chung theo quy định.
- Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế H từ 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù đến 02 (hai) năm tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Vƣơng Mỹ P từ 01(một) năm 03 (ba) tháng tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter màu xA, biển số 83P2-947.77 do các bị cáo Lê Văn D, Đoàn Mạnh C chiếm đoạt của bà Đỗ Thị T hiện không thu hồi đƣợc chiếc xe mô tô trên. Bà Đỗ Thị T yêu cầu các bị cáo bồi thƣờng số tiền 23.000.000 đồng theo kết quả định giá. Tại phiên tòa bà T chỉ yêu cầu các bị cáo bồi thƣờng số tiền 11.500.000 đồng. Tuy nhiên, các bị cáo tự nguyện bồi thƣờng cho bị hại số tiền 15.000.000 đồng đã giao cho bị hại bà T tại phiên tòa xong nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận và không đặt ra xem xét.
- Đối với các đối tƣợng tên Quyết, Dƣơng, Bách, quá trình điều tra các bị cáo khai quen biết nhau ngoài xã hội, không rõ nhân thân lai lịch, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra nhƣng chƣa xác định nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xử lý sau theo quy định.
- Đối với 01 xe mô tô kiểu dáng Honda Winner màu đen, gắn biển số 59N2-981.37, số khung: RLHKC2601GY034415, số máy: KC26E1056813 thu giữ của bị cáo H, quá trình điều tra xác định bị cáo H mua chiếc xe mô tô trên tại cửa hàng xe máy “Mạnh Linh” địa chỉ tại khu phố Hòa Lân 2, phƣờng Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng do ông Trần Mạnh Linh làm chủ, vào ngày 27/01/2023 với giá 14.500.000 đồng (không có hợp đồng mua bán). Qua làm việc ông Linh khai nhận đã bán xe mô tô trên cho bị cáo H và không có yêu cầu gì khác. Chiếc xe này, bị cáo H sử dụng làm phƣơng tiện đến phòng trọ của bị cáo D để trao đổi, liên hệ thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nƣớc.
- Đối với 01 xe mô tô kiểu dáng SYM màu đen, gắn biển số: 92H7-1217, số khung: RLGSC10GH8H002563, số máy: VMSACAH002563 thu giữ tại phòng trọ của bị cáo D. Quá trình điều tra, bị cáo D khai nhận chiếc xe mô tô trên mua lại của ngƣời khác (không rõ nhân thân, địa chỉ) với giá 1.000.000 đồng để sử dụng làm phƣơng tiện đi lại, khi mua không làm hợp đồng. Qua tra cứu thông tin chủ phƣơng tiện xe này do ông Đặng Kim Quang đứng tên chủ sở hữu, ông Quang khai nhận đã bán phế liệu, không nhớ bán cho ai và không có yêu cầu gì đối với chiếc xe này. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã tiến hành thông báo tìm chủ sở hữu nhƣng đến nay chƣa có kết quả chƣa làm rõ đƣợc nguồn gốc, do đó cần giao lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An để tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định.
- Đối với 03 đoạn kim loại tròn một đầu mài dẹp; 01 con dao tự chế làm bằng kim loại dài 30cm, cán đƣợc ốp nhựa màu vàng đen, 01 con dao tự chế làm bằng kim loại dài 42cm, cán dao làm bằng gỗ thu giữ bên trong phòng trọ của bị cáo D, quá trình điều tra, các bị cáo sử dụng làm phƣơng tiện thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 bình xịt hơi cay, quá trình điều tra bị cáo Đoàn Mạnh C khai nhận mua trên mạng xã hội và mang theo phòng thân khi thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy. Đồng thời, Công an thành phố Thuận An đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo C về hành vi tàng trữ trái phép công cụ hỗ trợ theo quy định.
- Đối với 01 áo công trình loại áo dạ quang màu vàng xA bên trên có in chữ CG1, 01 chứng minh nhân dân tên Nguyễn Hoàng Gia Bảo, 01 chứng minh nhân dân tên Đinh Thị Mai Hƣơng, 01 giấy phép lái xe tên Nguyễn Văn Hiếu, 01 giấy phép lái xe tên Đinh Thị Mai Hƣơng, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe máy biển số 36AA-077.55 thu giữ bên trong phòng trọ của bị cáo D. Quá trình điều tra, D khai nhận nhặt đƣợc xung quA khu vực ở trƣớc khu nhà trọ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã tiến hành điều tra, thông báo tìm chủ sở hữu nhƣng chƣa có ai đến để liên hệ giải quyết. Do đó, cần giao lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An để tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định.
- Đối với 01 điện thoại di động kiểu dáng VIVO Y01 màu xA, 01 điện thoại di động kiểu dáng Realme C35 màu đen, 01 điện thoại di động kiểu dáng Meizu m3 note màu vàng trắng, 01 điện thoại di động kiểu dáng VIVO Y01 màu xA, 01 điện thoại Samsung Galaxy A32, 01 điện thoại hiệu SamSung A51 màu xA, quá trình điều tra xác định đây là phƣơng tiện các bị cáo Lê Văn D, Nguyễn Vƣơng Mỹ P, Đoàn Mạnh C, Nguyễn Thế H sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nƣớc.
- Đối với số tiền 5.000.000 đồng, do các bị cáo tiêu thụ xe mô tô mà có, gồm H số tiền 1.700.000 đồng, D số tiền 500.000 đồng, C số tiền 2.800.000 đồng, quá trình điều tra xác định là tiền thu lợi bất chính nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nƣớc.
- Đối với 01 xe mô tô kiểu dáng Honda Winner màu xA trắng, số khung: RLHKC2609GY050460, số máy: KC26E1080504, quá trình điều tra xác định do ông Bùi ThA Hđứng tên chủ sở hữu, xe đƣợc cấp biển số đăng ký là 65F1.387.78. Quá trình sử dụng xe mô tô này thì vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 18/02/2023, ông Hdựng xe mô tô trƣớc phòng trọ số 3, địa chỉ: số 09, đƣờng Lái Thiêu 01, khu phố Bình Hòa, phƣờng Lái Thiêu, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đến khoảng 03 giờ 00 cùng ngày thì phát hiện bị mất chiếc xe mô tô trên. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho ông Hồng. Đồng thời, ông Hkhông có yêu cầu bồi thƣờng gì khác nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Đối với 01 biển số 68X1 - 506.46 đƣợc gắn trên xe mô tô kiểu dáng Honda Winner màu xA trắng, số khung: RLHKC2609GY050460, số máy: KC26E1080504, quá trình điều tra bị cáo C khai nhặt đƣợc trƣớc đó ở khu vực bãi đất trƣớc nhà trọ, các bị cáo còn lại khai nhận không biết nguồn gốc chiếc biển số này từ đâu mà có. Qua tra cứu xác định chiếc biển số này đƣợc cấp cho xe mô tô hiệu Honda, loại Wave, màu trắng – đen – bạc do bà Nguyễn T Thùy đứng tên chủ sở hữu. Chiếc xe mô tô này bà Thùy cho ông Nguyễn HA (em trai ruột của bà Thùy) quản lý sử dụng làm phƣơng tiện đi lại, ông A khai báo đã bị mất trộm vào ngày 15/02/2023, tại địa chỉ: ki ốt số 2, 3/20, khu phố Bình Đức 1, phƣờng Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã tiến hành điều tra nhƣng không xác định đƣợc đối tƣợng thực hiện hành vi phạm tội, chƣa thu hồi đƣợc tài sản, đồng thời ông A không cung cấp đƣợc đặc điểm, thông tin về tài sản để định giá làm căn cứ khởi tố vụ án theo quy định nên cần tiếp tục giao cho Cơ quan điều tra chiếc biển số 68X1 - 506.46 trên để tiếp tục điều tra theo quy định.
- Đối với 01 xe mô tô kiểu dáng Yamaha Sirius màu đỏ đen, gắn biển số 59V2 - 275.15, số khung: RLCS5C640AY345610, số máy: 5C64345615, quá trình điều tra bị cáo C khai nhận chiếc xe mô tô này do bị cáo C cùng với đối tƣợng tên Tín lén lút chiếm đoạt đƣợc vào ngày 15/02/2023 ở khu vực gần Ngã tƣ Bình Thung, phƣờng Tân Đông Hiệp, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã tiến hành xác minh tại Công an phƣờng Tân Đông Hiệp, thành phố Dĩ An nhƣng xác định không có thông tin vụ trộm cắp tài sản trên và cũng không nhận đƣợc trình báo của ngƣời dân liên quan đến vụ mất trộm tài sản chiếc xe mô tô trên. Cơ quan điều tra đã tiến hành đƣa bị cáo C xác định địa điểm cụ thể nơi chiếm đoạt tài sản nhƣng bị cáo không xác định đƣợc địa điểm cụ thể. Ngoài lời khai của bị cáo C không còn tài liệu khác để chứng minh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chƣa đủ căn cứ để xử lý bị cáo C về hành vi trộm cắp tài sản. Quá trình tra cứu phƣơng tiện xác định chiếc biển số 59V2 - 275.15 do bà Phạm Thị HVân đứng tên chủ sở hữu, chiếc biển số này đƣợc cấp cho xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Lead, màu sơn đen-nâu, qua điều tra xác định bà Vân hiện không có mặt tại địa phƣơng nên chƣa làm rõ đƣợc nguồn gốc chiếc biển số này. Do đó, cần tiếp tục giao lại chiếc biển số này cho Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xử lý theo quy định. Qua tra cứu thông tin số khung: RLCS5C640AY345610, số máy: 5C64345615 xác định chủ phƣơng tiện là ông Nguyễn Ngọc Tài đứng tên chủ sở hữu, chiếc xe này đƣợc cấp biển số đăng ký là 70R2-1543. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra xác định ông Nguyễn Ngọc Tài đã chết vào ngày 18/02/2023 do bị tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với bà Nguyễn Thị Bích Tiên (mẹ ruột của Tài) là ngƣời đại diện hợp pháp của ông Tài xác định, bà Tiên có biết đặc điểm chiếc xe mô tô trên là của Tài nhƣng trong quá trình Tài sử dụng nhƣ thế nào thì bà Tiên không biết, bà Tiên có yêu cầu nhận lại nên cần trả lại chiếc xe mô tô trên cho bà Tiên theo quy định.
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị hại trình bày: Bị hại thống nhất trình bày của các bị cáo. Bị hại đã nhận đủ số tiền 15.000.000 đồng từ các bị cáo. Bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thƣờng gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội giống nội dung Viện kiểm sát truy tố. Lời nói sau cùng các bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình nên xin đƣợc hƣởng mức hình phạt thấp nhất để có điều kiện làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.
Quá trình tố tụng các bị cáo Lê Văn D, Nguyễn Vƣơng Mỹ P, Đoàn Mạnh C, Nguyễn Thế H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo thống nhất với nhau, phù hợp với các tình tiết nhƣ bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; ngƣời làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội và vật chứng thu giữ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 24/02/2023, tại địa chỉ: 975/8 khu phố 9, phƣờng Hiệp An, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng, các bị cáo Lê Văn D, Đoàn Mạnh C đã lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter màu xA, biển số 83P2-947.77 của bà Đỗ Thị T, trị giá 23.000.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Ngày 25/02/2023, tại khu phố Hòa Lân 1, phƣờng Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, các bị cáo Lê Văn D, Nguyễn Vƣơng Mỹ P, Đoàn Mạnh C, Nguyễn Thế H có hành vi mua 01 xe mô tô kiểu dáng Honda Winner màu xA trắng, không có biển số có trị giá 21.000.000 đồng. Các bị cáo biết rõ là xe là do ngƣời khác phạm tội mà có, không có biển số, không có giấy chứng nhận đăng ký, không rõ nguồn gốc, không phải của chủ sở hữu hợp pháp nhƣng các bị cáo cố tình mua lại với giá rẻ để bán lại cho ngƣời khác nhằm mục đích thu lợi bất chính. Cùng ngày bị cáo Nguyễn Thế H biết rõ chiếc xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter màu xA, biển số 83P2-947.77 là do bị cáo Lê Văn D và Đoàn Mạnh C phạm tội mà có nhƣng vẫn đồng ý tiêu thụ, giá trị xe là 23.000.000 đồng, tổng cộng: 44.000.000 đồng, thu lợi bất chính số tiền 1.7000.000 đồng. Do đó, hành vi của các bị cáo Lê Văn D, Nguyễn Vƣơng Mỹ P, Đoàn Mạnh C, Nguyễn Thế H đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố các bị cáo Lê Văn D, Đoàn Mạnh C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 và các bị cáo Lê Văn D, Nguyễn Vƣơng Mỹ P, Đoàn Mạnh C, Nguyễn Thế H về tội “Tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017” là có căn cứ và đúng pháp luật. Mức đề nghị hình phạt của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với hành vi bị cáo đã thực hiện.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý hành chính của Nhà nƣớc, xâm phạm trật tự công cộng đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo D, C nhận thức đƣợc hành vi chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác là vi phạm pháp luật; bị cáo H, P, D, C nhận thức đƣợc tài sản do phạm tội mà có nhƣng vẫn tiêu thụ là vi phạm pháp luật hình sự nhƣng vẫn thực hiện, tạo điều kiện khuyến khích cho những ngƣời khác đi vào con đƣờng phạm tội; hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị nhƣng vì động cơ tham lam, tƣ lợi cá nhân nên các bị cáo đã cố ý phạm tội. Do vậy, cần xử phạt các bị cáo mức án tƣơng xứng với tính chất, hành vi phạm tội đã thực hiện căn cứ vào tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo đủ để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân xấu.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Nguyễn Vƣơng Mỹ P phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Các bị cáo Lê Văn D, Đoàn Mạnh C phạm tội khi chƣa đƣợc xóa án tích là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo Nguyễn Thế H phạm tội 02 lần trở lên là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo D đã bồi thƣờng thiệt hại cho bị hại; bị cáo H hỗ trợ 01 phần thiệt hại cho bị hại nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo Lê Văn D, Đoàn Mạnh C cùng một lần bị xét xử về hai tội nên áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.
Đối với các đối tƣợng tên Quyết, Dƣơng, Bách, hiện chƣa xác định đƣợc nhân thân lai lịch, khi nào xác minh đƣợc sẽ xử lý sau.
Đối với hành vi của đối tƣợng Lăng (chƣa rõ lai lịch, địa chỉ) đã chiếm đoạt tài sản là 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Winnerx biển số 65H1-501.71 của ông Trần Văn Vàng đang quản lý hợp pháp xảy ra trên địa bàn phƣờng Tân Đông Hiệp, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã tiến hành điều tra, xác minh, làm rõ khi có căn cứ sẽ xử lý theo thẩm quyền.
Về trách nhiệm dân sự: Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter màu xA, biển số 83P2-947.77 do các bị cáo Lê Văn D, Đoàn Mạnh C chiếm đoạt của bà Đỗ Thị T hiện không thu hồi đƣợc chiếc xe mô tô trên. Bà Đỗ Thị T và các bị cáo đã thỏa thuận bồi thƣờng số tiền 15.000.000 đồng (đã thực hiện xong) nên Hội đồng xét xử ghi nhận và không đặt ra xem xét.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 xe mô tô kiểu dáng Honda Winner màu đen, gắn biển số 59N2-981.37, số khung: RLHKC2601GY034415, số máy: KC26E1056813; 01 điện thoại di động kiểu dáng VIVO Y01 màu xA; 01 điện thoại di động kiểu dáng Realme C35 màu đen; 01 điện thoại di động kiểu dáng Meizu m3 note màu vàng trắng; 01 điện thoại di động kiểu dáng VIVO Y01 màu xA; 01 điện thoại Samsung Galaxy A51 màu xA đen; 01 điện thoại hiệu SamSung màu đen các bị cáo sử dụng làm phƣơng tiện thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nƣớc.
- Đối với 01 xe mô tô kiểu dáng SYM màu đen, gắn biển số: 92H7-1217, số khung: RLGSC10GH8H002563, số máy: VMSACAH002563; 01 áo công trình loại áo dạ quang màu vàng xA bên trên có in chữ GG1; 01 chứng minh nhân dân tên Nguyễn Hoàng Gia Bảo; 01 chứng minh nhân dân tên Đinh Thị Mai Hƣơng; 01 giấy phép lái xe tên Nguyễn Văn Hiếu; 01 giấy phép lái xe tên Đinh Thị Mai Hƣơng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe máy biển số 36AA-077.55; 01 biển số 68X1 - 506.46 chƣa xác định đƣợc chủ sở hữu hợp pháp nên giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An để tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.
- Đối với 03 đoạn kim loại tròn một đầu mài dẹp; 01 con dao tự chế làm bằng kim loại dài 30cm, cán đƣợc ốp nhựa màu vàng đen, 01 con dao tự chế làm bằng kim loại dài 42cm, cán dao làm bằng gỗ, 01 bình xịt hơi cay các bị cáo sử dụng làm phƣơng tiện thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Công an thành phố Thuận An đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo C về hành vi tàng trữ trái phép công cụ hỗ trợ 01 bình xịt hơi cay theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Đối với số tiền 5.000.000 đồng là tiền các bị cáo thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội mà có. Do đó, buộc bị cáo H giao nộp số tiền 1.700.000 đồng, buộc bị cáo D giao nộp số tiền 500.000 đồng, buộc bị cáo C giao nộp số tiền 2.800.000 đồng, để nộp vào ngân sách Nhà nƣớc.
- Đối với 01 xe mô tô kiểu dáng Honda Winner màu xA trắng, số khung: RLHKC2609GY050460, số máy: KC26E1080504 là tài sản hợp pháp của ông Bùi ThA Hnên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã trả lại cho ông Bùi ThA Hlà phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Đối với 01 xe mô tô kiểu dáng Yamaha Sirius màu đỏ đen, gắn biển số 59V2 - 275.15, số khung: RLCS5C640AY345610, số máy: 5C64345615, quá trình tố tụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà Nguyễn Thị Bích Tiên là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 323; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 47; Điều 48; Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (áp dụng đối với các bị cáo Lê Văn D, Đoàn Mạnh C).
- Khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 47; Điều 48; Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Thế H).
- Khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 48; Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Vƣơng Mỹ P).
- Điều 109, Điều 136, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố các bị cáo Lê Văn D, Đoàn Mạnh C phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có”.
Các bị cáo Nguyễn Vƣơng Mỹ P, Nguyễn Thế H phạm tội “Tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có”.
- Xử phạt bị cáo Lê Văn D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có” và 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành cả hai tội là 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/02/2023.
- Xử phạt bị cáo Đoàn Mạnh C 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có” và 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành cả hai tội là 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/02/2023.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế H 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/02/2023.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Vƣơng Mỹ P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/02/2023.
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nƣớc: 01 xe mô tô kiểu dáng Honda Winner màu đen, gắn biển số 59N2-981.37, số khung: RLHKC2601GY034415, số máy: KC26E1056813; 01 điện thoại di động kiểu dáng VIVO Y01 màu xA; 01 điện thoại di động kiểu dáng Realme C35 màu đen; 01 điện thoại di động kiểu dáng Meizu m3 note màu vàng trắng; 01 điện thoại di động kiểu dáng VIVO Y01 màu xA; 01 điện thoại Samsung Galaxy A51 màu xA đen; 01 điện thoại hiệu SamSung màu đen.
- Tịch thu tiêu hủy: 03 đoạn kim loại tròn một đầu mài dẹp; 01 con dao tự chế làm bằng kim loại dài 30cm, cán đƣợc ốp nhựa màu vàng đen, 01 con dao tự chế làm bằng kim loại dài 42cm, cán dao làm bằng gỗ, 01 bình xịt hơi cay.
- Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An: 01 xe mô tô kiểu dáng SYM màu đen, gắn biển số: 92H7-1217, số khung: RLGSC10GH8H002563, số máy: VMSACAH002563; 01 áo công trình loại áo dạ quang màu vàng xA bên trên có in chữ GG1; 01 chứng minh nhân dân tên Nguyễn Hoàng Gia Bảo; 01 chứng minh nhân dân tên Đinh Thị Mai Hƣơng; 01 giấy phép lái xe tên Nguyễn Văn Hiếu; 01 giấy phép lái xe tên Đinh Thị Mai Hƣơng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe máy biển số 36AA-077.55; 01 biển số 68X1 - 506.46 để tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định.
(Theo theo bản giao nhận vật chứng ngày 24/11/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an Thuận An và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An).
3. Về biện pháp tƣ pháp: Buộc bị cáo Nguyễn Thế H nộp lại số tiền 1.700.000 đồng (một triệu, bảy trăm nghìn đồng), bị cáo Lê Văn D nộp lại số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), bị cáo Đoàn Mạnh C nộp lại số tiền 2.800.000 đồng (hai triệu tám trăm nghìn đồng), để tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nƣớc.
4. Về án phí:
Các bị cáo Lê Văn D, Nguyễn Vƣơng Mỹ P, Đoàn Mạnh C, Nguyễn Thế H mỗi ngƣời phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án đƣợc giao hoặc niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Thuận An; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - Chi cục THA thành phố Thuận An; - CQCSĐT Công an thành phố Thuận An; - Cơ quan THAHS Công an thành phố Thuận An; - Sở Tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - Bị cáo; - Bị hại; - Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lƣu: HS, THAHS, AV. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu |