vanban.org

Bản án 82/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị L:

Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị L được ly hôn anh Lê Xuân B. Về con chung: giao 02 con chung Lê Đình P (nam) sinh ngày 28/02/2012 và Lê Hoàng Nhật M (nam) sinh ngày 29/01/2016 cho chị Huỳnh Thị L nuôi dưỡng, chăm sóc đến trưởng thành. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Thị L tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị L:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂY SƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2024/HNGĐ-ST
Ngày:
09-4-2024
V/v tranh chấp L hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Giang Nam.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Tuyết Dung.

2. Ông Đặng Văn Trị.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thìn - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tây Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 14/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp L hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/ QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị L, sinh năm 1987 (Có mặt).

Địa chỉ: Đội X, thôn Đ2, xã B, huyện T, Bình Định.

- Bị đơn: Anh Lê Xuân B, sinh năm 1987 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Đội Y, thôn N, xã V, huyện T, Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện (đơn yêu cầu L hôn), bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn là chị Huỳnh Thị L trình bày: Chị và anh Lê Xuân B tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau được gia đình hai bên chấp nhận tổ chức lễ cưới theo P tục. Sau đó có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn D, huyện E, tỉnh Đăk Lăk vào ngày 02/11/2009. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc được 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do anh B không lo làm ăn mà thường ăn chơi, cờ bạc, chị khuyên thì không nghe, dẫn đến vợ chồng thường xuyên kình cãi, xúc phạm nhau. Từ khoảng đầu năm 2023 thì vợ chồng cắt đứt quan hệ phần ai nấy sống, bỏ mặc không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay xét thấy vợ chồng không còn tình cảm yêu thương gì chị yêu cầu ly hôn anh B.

Về con chung: Chị và anh B có 02 con chung là Lê Đình P (nam) sinh ngày 28/02/2012 và Lê Hoàng Nhật M (nam) sinh ngày 29/01/2016 hiện đang sống cùng chị. Khi L hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng chăm sóc con chung đến trưởng thành; không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa giải quyết.

Tại phiên Tòa hôm nay, bị đơn anh Lê Xuân B vắng mặt không có lý do: anh Lê Xuân B đã được tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập, Quyết định xét xử nhưng vẫn vắng mặt, không cung cấp lời khai và yêu cầu đối với vụ án.

Biên bản xác minh ngày 11/01/2024, Công an xã v cung cấp: anh Lê Xuân B có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Đội Y, thôn N, xã V, huyện T, Bình Định; anh B hiện có mặt ở địa phương.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn phát biểu ý kiến:

- Việc tuân thủ pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử từ khi Tòa thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án là có căn cứ, cơ bản đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, tuy nhiên còn có một vài vi phạm. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 BLTT Dân sự 2015. Tuy nhiên, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, 72, 73 BLTT Dân sự 2015.

- Về quan điểm giải quyết vu ̣ án: đề nghi ̣ HĐXX áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên xử: chị Huỳnh Thị L được L hôn anh Lê Xuân B; về con chung: giao 02 con chung Lê Đình P (nam) sinh ngày 28/02/2012 và Lê Hoàng Nhật M (nam) sinh ngày 29/01/2016 cho chị L được tiếp tục nuôi dưỡng chăm sóc đến trưởng thành (nguyện vọng của 02 con chung là được sống cùng mẹ); về cấp dưỡng nuôi con: miễn xét vì chị L không yêu cầu; về tài sản chung: không yêu cầu Tòa giải quyết nên miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn, anh Lê Xuân B vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị L và anh Lê Xuân B kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn D, huyện E, tỉnh Đăk Lăk vào ngày 02/11/2009 đúng theo quy định tại các Điều 9, 10, 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi cưới, chị L, anh B chung sống hạnh phúc được 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm nên thường xuyên kình cãi, xúc phạm nhau. Anh B không lo làm ăn chăm sóc gia đình mà sa đà, chơi bời; chị L đã khuyên nhủ nhiều lần nhưng tình hình không tiến triển. Từ đầu năm 2023 thì vợ chồng đã cắt đứt quan hệ phần ai nấy sống, bỏ mặc không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Anh B có mặt tại địa phương mặc dù đã được triệu tập nhiều lần nhưng vẫn không đến Tòa là thể hiện không xem trọng cuộc hôn nhân này. Như vậy, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị L yêu cầu ly hôn với anh B là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Chị L và anh B có 02 con chung Lê Đình P (nam) sinh ngày 28/02/2012 và Lê Hoàng Nhật M (nam) sinh ngày 29/01/2016 hiện đang sống cùng chị L. Khi L hôn, chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng chăm sóc 02 con chung đến trưởng thành. HĐXX xét thấy yêu cầu của chị L là phù hợp với nguyện vọng của 02 con chung (P và M đều muốn sống cùng mẹ), phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nghị nên chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con, nên HĐXX không xem xét.

Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xét.

Về án phí L hôn sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: cần buộc chị Huỳnh Thị L phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ.

Lời phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 9, 10, 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;

Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình 2014;

Áp dụng Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị L:

- Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị L được ly hôn anh Lê Xuân B.

- Về con chung: giao 02 con chung Lê Đình P (nam) sinh ngày 28/02/2012 và Lê Hoàng Nhật M (nam) sinh ngày 29/01/2016 cho chị Huỳnh Thị L nuôi dưỡng, chăm sóc đến trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con: chị L không yêu cầu nên Tòa không xét.

Bên không trực tiếp nuôi con nhưng vẫn có quyền thăm nom, giúp đỡ con chung, không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên Tòa không xét.

2/ Về án phí ly hôn sơ thẩm:

Chị Huỳnh Thị L phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp trước là 300.000đ theo biên lai số 0003478 ngày 08/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn; chị L đã nộp đủ án phí.

3/ Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết Bản án.

4/ Quyền và nghĩa vụ thi hành án: Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ