vanban.org

Bản án 82/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Nguyễn Duy Huyền Nh được ly hôn với ông Trần Viết Ch.

Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Giao cháu Trần Viết Th, sinh ngày 24/11/2021 cho bà Nh trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Nh không yêu cầu ông Ch cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, vì lợi ích của con khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Ngư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Nguyễn Duy Huyền Nh được ly hôn với ông Trần Viết Ch.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:82/2024/HNGĐ-ST
Ngày 13 tháng 8 năm 2024
V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM – TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Thảnh

- Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Võ Thu

2/ Ông Nguyễn Lai

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Vừ Y Khù - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm.

Ngày 13/8/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 109/2024/TLST- HNGĐ ngày 03/5/2024 về việc “ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/7/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Duy Huyền Nh - Sinh năm: 1999; Địa chỉ nơi cư trú: Tổ dân phố TH, thị trấn CĐ, huyện CL, tỉnh Khánh Hòa. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Trần Viết Ch - Sinh năm: 1984; Địa chỉ nơi cư trú: Thôn TH, xã CHT, huyện CL, tỉnh Khánh Hòa (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 17/01/2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Duy Huyền Nh trình bày:

Về yêu cầu ly hôn: Bà Nh và ông Trần Viết Ch tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2021; có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã CHT, huyện CL, tỉnh Khánh Hòa và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 33/2021 ngày 21/8/2021.

Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên kình cãi không có tiếng nói chung. Vợ chồng đã nhiều lần hoà giải, gia đình hai bên cũng đã hoà giải cho vợ chồng nhưng không giải quyết được mâu thuẫn. Cuối năm 2021do không thể sống chung nên bà đã dọn về nhà mẹ tại Cam Đức để sống. Nay bà không còn tình cảm với ông Ch nên bà Nh yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Ch.

Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Bà Nh và ông Trần Viết Ch có 01 con chung là Trần Viết Th, sinh ngày 24/11/2021. Sau khi ly hôn, bà Nh yêu cầu trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Th. Không yêu cầu ông Ch phải cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản khi ly hôn: Bà Nh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 15/5/2024 và quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Trần Viết Ch trình bày: Ông Ch nhất với lời trình bày của bà Nh về thời gian chung sống và thời gian kết hôn. Trong quá trình chung sống vợ chồng tuy có kình cãi nhưng không đáng kể. Từ cuối năm 2021 bà Nh đã tự ý bỏ về nhà mẹ đẻ tại tổ dân phố TH, thị trấn CĐ để sống cho tới nay. Ông đã nhiều lần năn nỉ cho vợ chồng đoàn tụ nhưng bà Nh không đồng ý. Về phương án để hàn gắn ông sẽ cố gắng thuyết phục thêm để vợ thay đổi ý định để vợ chồng đoàn tụ. Nay bà Nh yêu cầu ly hôn ông không đồng ý.

Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng ông có 01 con chung là Trần Viết Th, sinh ngày 24/11/2021. Trong trường hợp ly hôn, ông đồng ý giao cho bà Nh trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Th. Ông không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản khi ly hôn: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ: không có nợ chung

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm phát biểu ý kiến:

- Về tuân theo pháp luật tố tụng: quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Duy Huyền Nh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp về ly hôn giữa bà Nguyễn Duy Huyền Nh và ông Trần Viết Ch thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, căn cứ Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về yêu cầu ly hôn: bà Nguyễn Duy Huyền Nh và ông Trần Viết Ch tự nguyện kết hôn với nhau năm 2021; được Ủy ban nhân dân xã CHT, huyện CL, tỉnh Khánh Hòa cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 33/2021 ngày 21/8/2021; đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống giữa bà Nh và ông Ch phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên kình cãi không có tiếng nói chung. Vợ chồng đã nhiều lần hoà giải, gia đình hai bên cũng đã hoà giải cho vợ chồng nhưng không giải quyết được mâu thuẫn. Từ cuối năm 2021 vợ chồng bà sống ly thân. Hiện vợ chồng không thể tiếp tục chung sống, bà Nh không còn tình cảm với ông Ch. Ông Ch thừa nhận vợ chồng có xẩy ra mâu thuẫn, có kình cãi nhưng không đáng kể. Hiện nay vợ chồng ông đã sống ly thân từ cuối năm 2021 cho đến nay. Ông nhiều lần thuyết phục bà Nh quay về nhưng bà Nh vẫn không đồng ý. Nay bà Nh yêu cầu ly hôn ông không đồng ý. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng bà Nh vẫn cương quyết yêu cầu được ly hôn với ông Ch, ông Ch cũng không có giải pháp để hàn gắn tình cảm với bà Nh. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà Nh và ông Ch là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nh được ly hôn với ông Trần Viết Ch.

Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: bà Nh và ông Ch có 01 con chung là cháu Trần Viết Th, sinh ngày 24/11/2021; Công nhận sự thỏa thuận của bà Nh và ông Ch giao cháu Trần Viết Th, sinh ngày 24/11/2021 cho bà Nh trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Nh không yêu cầu ông Ch cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản khi ly hôn: bà Nh và ông Ch không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: bà Nh phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 39; Điều 228, Điều 238, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Nguyễn Duy Huyền Nh được ly hôn với ông Trần Viết Ch.

2. Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Giao cháu Trần Viết Th, sinh ngày 24/11/2021 cho bà Nh trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Nh không yêu cầu ông Ch cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, vì lợi ích của con khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

3. Về chia tài sản khi ly hôn: bà Nguyễn Duy Huyền Nh và ông Trần Viết Ch không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: bà Nguyễn Duy Huyền Nh phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số BLTU/23/0007740 ngày 03/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lâm, bà Nh đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ