vanban.org

Bản án 82/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 21/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lương Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Hoàng Thị Thùy P phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Xử phạt bị cáo Lương Văn V 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 21/7/2023. Xử phạt bị cáo Hoàng Thị Thùy P 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn Vinh và Hoàng Thị Thúy Phương - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lương Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Hoàng Thị Thùy P phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA H’LEO
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2023/HS-ST
Ngày: 21-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Đăng Khoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Ksơr Y Nai.

- Ông Trần Tiến Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Hòa – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo tham gia phiên toà: Ông Ksơr Y Kơn – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2023 tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 78/2023/TLST-HS, ngày 01 tháng 11 năm 2023, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2023/QĐXXST-HS, ngày 10 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Lương Văn V, sinh năm 1982 tại tỉnh Cao Bằng; nơi cư trú: Thôn 5, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn S (đã chết) và bà Nông Thị S (đã chết); vợ là Chu Thị H, sinh năm 1987 (đã ly hôn); bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2010; tiền sự: Ngày 30/12/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo áp dụng biện pháp xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng, bị cáo chưa chấp hành; tiền án: Không; nhân thân: Tại bản án hình sự số 286/2019/HSPT, ngày 24 tháng 9 năm 2019 bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt, đã được xóa án tích; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/7/2023 đến ngày 30/7/2023 chuyển sang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Ea H’Leo; có mặt.

2. Hoàng Thị Thùy P, sinh năm 1979 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Thôn 2, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Ngọc L (đã chết) và bà Trần Thị Q, sinh năm 1940; có chồng Đỗ Hồg L, sinh năm 1978, bị cáo có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án: Không có; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Bị hại:

1. Bà Hồ Ngân H, sinh năm 1978 và ông Huỳnh Ngọc , sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn 11, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.

2. Bà Hoàng Thị Y, sinh năm 1986, (có mặt) và ông Nông Minh H, sinh năm 1982, (vắng mặt); địa chỉ: Thôn 10, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

3. Bà Nông Thị N, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn 6B, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.

4. Bà Trần Thị T, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn 6B, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.

5. Ông Nguyễn Văn , sinh năm 1938; địa chỉ: Thôn 9, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.

- Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn 9, xã , huyện E, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.

2. Ông Bùi Hồng , sinh năm 1977; địa chỉ: 28/2 đường Huỳnh Văn B, phường 15, quận P, thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

3. Bà Trần Thanh T, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ dân phố 2, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lương Văn V là đối tượng nghiện ma túy và không có nghề nghiệp ổn định. Trong thời gian từ tháng 5/2023 đến ngày 10/7/2023, Lương Văn V đã thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Ea H’Leo, cụ thể như sau:

Lần 1: Khoảng 06 giờ một ngày vào tháng 5/2023, Lương Văn V đi từ nhà tại Thôn 5B, xã E đến xã C mục đích tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Khi đến vườn rẫy của ông Huỳnh Ngọc H thuộc thôn 4, xã Cư A Mung, huyện Ea H’Leo, Vịnh thấy xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Taurus, màu đỏ, biển số 47N1-9472 của ông H đang dựng tại rẫy không người trông coi, trên xe có cắm sẵn chìa khóa. V đi đến bật chìa khóa khởi động xe và điều khển đi đến Tiệm thu mua phế liệu của ông Nguyễn Văn M thuộc thôn 9, xã E (trước đây là Thôn 12) bán cho ông M được số tiền 350.000 đồng.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 39/KL-HĐĐGTS ngày 21/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Ea H’Leo, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Taurus có giá trị 2.200.000 đồng.

Lần 2: Khoảng 14 giờ ngày 17/6/2023, Lương Văn V đi đến khu vực thôn 6A, xã Ea Wy, huyện Ea H’Leo V thấy 01 xe mô tô nhãn hiệu Lisohaka, biển số 77S9-8938 (xe độ chế, đã cũ) của chị Hoàng Thị Y dựng ở bờ ruộng không người trông coi. V đi đến đạp cần khởi động thì xe nổ được máy và điều khiển đi đến Tiệm thu mua phế liệu của Hoàng Thị Thùy P thuộc thôn 2, xã Ea Nam, huyện Ea H’Leo bán cho P được số tiền 400.000 đồng. Sau đó P bán lại xe cho người khác (không rõ lai lịch địa chỉ) với số tiền 500.000 đồng.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 63/KL-HĐĐGTS ngày 28/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Ea H’Leo, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Lisohaka có giá trị 1.100.000 đồng.

Lần 3: Khoảng 09 giờ một ngày tháng 6/2023, Lương Văn V đi đến thôn 6B, xã Ea Wy, V thấy 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh của chị Nông Thị N dựng ở bờ ruộng không người trông coi. V đi đến đạp cần khởi động thì xe nổ được máy và điều khiển đi đến Tiệm thu mua phế liệu của Hoàng Thị Thùy P, địa chỉ: Thôn 2, xã Ea Nam bán cho P được số tiền 420.000 đồng. Sau đó P bán lại xe cho người khác (không rõ lai lịch địa chỉ) với số tiền 520.000 đồng.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 63/KL-HĐĐGTS ngày 28/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Ea H’Leo, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha có giá trị 3.500.000 đồng.

Lần 4: Khoảng 14 giờ một ngày tháng 6/2023, Lương Văn V đi đến thôn 6B, xã Cư Mốt, huyện Ea H’Leo Vịnh thấy 01 xe mô tô nhãn hiệu Stream, màu nâu, biển số 47H9-2567 của chị Trần Thị T dựng trong vườn cà phê không người trông coi. V đi đến đạp cần khởi động thì xe nổ được máy và điều khiển đi đến Tiệm thu mua phế liệu của Hoàng Thị Thùy , địa chỉ: Thôn 2, xã Ea Nam bán cho P được số tiền 450.000 đồng. Sau đó P bán lại xe cho người khác (không rõ lai lịch địa chỉ) với số tiền 550.000 đồng.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 63/KL-HĐĐGTS ngày 28/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Ea H’Leo, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Streamcó giá trị 1.500.000 đồng.

Lần 5: Khoảng 09 giờ ngày 10/7/2023, Lương Văn V đi đến Hội trường Thôn 12 cũ (nay là Thôn 9), xã E, huyện Ea H’Leo, V thấy 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đỏ, biển số 52Y5-5740 của ông Nguyễn Văn T đang dựng bên cạnh đường bê tông, cách Hội trường Thôn 12 cũ khoảng 05 mét không người trông coi, trên xe có cắm sẵn chìa khóa. V đi đến bật chìa khóa khởi động xe và điều khiển đi đến Tiệm thu mua phế liệu của Hoàng Thị Thùy P, địa chỉ: Thôn 2, xã Ea Nam bán cho P. Sau nhiều lần mua xe mô tô do Lương Văn V bán không có giấy tờ, Hoàng Thị Thuỳ P biết được là xe mô tô do Vịnh phạm tội mà có nhưng vi ham lợi nên vẫn tiếp tục mua với số tiền 700.000 đồng.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 39/KL-HĐĐGTS ngày 21/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Ea H’Leo, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha có giá trị 5.500.000 đồng.

Số tiền có được từ các lần bán xe, Lương Văn V đều mua ma túy để sử dụng và tiêu xài cá nhân hết. Bị can V 05 lần thực hiện hành vi phạm tội, với tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 13.800.000 đồng, nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên.

Tại Bản cáo trạng số 72/CT-VKS, ngày 31/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo truy tố bị cáo Lương Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Hoàng Thị Thùy P về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa: Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo quyết định truy tố sau khi đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lương Văn V từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù, thời hạn hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 21/7/2023.

Áp dụng khoản 1 Điều 323; các điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Thị Thùy P từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách bằng hai lần mức án, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Hoàng Thị Y yêu cầu bồi thường số tiền 1.500.000 đồng, bị hại Nông Thị N yêu cầu bồi thường số tiền 6.000.000 đồng, bị hại Trần Thị T yêu cầu bồi thường số tiền 1.500.000 đồng. Tuy nhiên, số tiền các tài sản bị cáo V chiếm đoạt được xác định như sau: Chiếm đoạt của bà Y 1.100.000 đồng, chiếm đoạt của bà N là 3.500.000 đồng, chiếm đoạt của bà T là 1.500.000 đồng. Tại phiên tòa các bị hại yêu cầu bồi thường theo giá trị theo kết quả định giá tài sản, các bị cáo và các bị hại thỏa thuận dùng số tiền 1.570.000 đồng mà bị cáo P nộp để bồi thường khắc phục cho bà Y, N, T nên cần chấp nhận. Cần buộc bị cáo Vbồi thường cho các bị cáo số tiền còn thiếu sau khi khấu trừ số tiền mà bị cáo Ph nộp. Ông Nguyễn Văn M không yêu cầu gì về dân sự nên không đề cập xem xét, giải quyết.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận Công an huyện Ea H’Leo đã giao trả ông Huỳnh Ngọc H xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Taurus, màu đỏ, số khung RLCS16S208Y012626, số máy 16S2-012631; trả lại cho ông Nguyễn Văn T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đỏ và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 52Y5-5740; trả lại cho bà Hoàng Thị Y giấy sang nhượng xe (viết tay) xe mô tô biển số 77S9-8938; trả lại cho bà Trần Thị T giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 47H9-2567 là các chủ sở hữu hợp pháp.

Đối với 01 áo thun ngắn tay màu đen, trên ngực áo có dòng chữ “Fearow” màu xanh; 01 quần Jean dài màu xanh, là trang phục Lương Văn V mặc để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, đã hết giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo Lương Văn V và Hoàng Thị Thùy P không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát, không có tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo Lương Văn V không nói lời nói sau cùng; bị cáo Hoàng Thị Thùy P xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ea H’Leo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung:

- Vào khoảng 08 giờ một ngày trong tháng 05/2022 tại khu vực rẫy của ông Huỳnh Ngọc H và bà Hồ Ngân H thuộc thôn 4, xã Cư A Mung, huyện Ea H’Leo, Lương Văn V có hành vi trộm cắp chiếc xe biển kiểm soát 47N1 – 9472. Sau đó, V bán chiếc xe mô tô trên cho Nguyễn Văn M với giá là 350.000 đồng, giá trị tài sản được xác định là 2.200.000 đồng.

- Vào khoảng 14 giờ ngày 17/6/2023 tại khu vực bờ ruộng thuộc thôn 6A, xã Ea Wy, huyện Ea H’Leo, Lương Văn V có hành vi trộm cắp chiếc xe biển kiểm soát 77S – 8938 của bà Hoàng Thị Y. Sau đó, V bán chiếc xe mô tô trên cho Hoàng Thị Thùy P với giá là 400.000 đồng, sau đó bán cho người khác với giá 500.000 đồng, giá trị tài sản được xác định là 1.100.000 đồng.

- Vào khoảng 09 giờ một ngày tháng 6/2023 tại khu vực bờ ruộng thuộc thôn 6B, xã Cư Mốt, huyện Ea H’Leo, Lương Văn V có hành vi trộm cắp chiếc xe máy Wave Alpha của bà Nông Thị N. Sau đó, Vịnh bán chiếc xe mô tô trên cho Hoàng Thị Thùy P với giá là 420.000 đồng, sau đó P bán cho người khác với giá 520.000 đồng, giá trị tài sản được xác định là 3.500.000 đồng.

- Vào khoảng 14 giờ một ngày tháng 6/2023 tại khu vực vườn cà phê thuộc thôn 6B, xã Cư Mốt, huyện Ea H’Leo, Lương Văn V có hành vi trộm cắp chiếc xe biển kiểm soát 47H9 – 2567 của bà Trần Thị T. V bán chiếc xe mô tô trên cho Hoàng Thị Thùy P với giá là 450.000 đồng, sau đó P bán cho người khác với giá 550.000 đồng, giá trị tài sản được xác định là 1.500.000 đồng.

- Vào khoảng 09 giờ ngày 10/7/2023 tại hội trường thôn 12 cũ, nay thuộc thôn 9, xã Ea Khal, huyện Ea H’Leo, Lương Văn V có hành vi trộm cắp chiếc xe biển kiểm soát 52Y-5740 của ông Nguyễn Văn T. Sau đó, Vịnh bán chiếc xe mô tô trên cho Hoàng Thị Thùy P, P biết đây là tài sản do V phạm tội mà có nhưng vì ham lợi nên đã mua với giá là 700.000 đồng, giá trị tài sản được xác định là 5.500.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 13.800.000 đồng. Bị cáo P phạm tội 01 lần, trị giá chiếc xe mà bị cáo tiêu thụ là 5.500.000 đồng.

Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ căn cứ pháp luật để kết luận: Bị cáo Lương Văn V đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo P không hứa hẹn trước nhưng sau khi Vịnh trộm cắp chiếc xe mô tô biển số kiểm soát 52Y5-5740 mang đến bán, mặc dù biết đây là tài sản do V trộm cắp mà có nhưng P vẫn mua nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo truy tố bị cáo P về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định:

1. “Người nào trộm cắp tài sản của người khác có trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự quy định:

1. “Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là người khác phạm tội mà có thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có đầy đủ nhận thức để biết được việc làm của mình là vi phạm pháp luật. Thế nhưng, do ý thức coi thường pháp luật, muốn có tiền tiêu xài nhưng không phải lao động chính đáng, ham lợi nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ngoài việc xâm phạm đến tài sản của người khác còn gây mất ổn định về an ninh, trật tự tại địa phương, làm cho người dân hoang mang, lo lắng.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo V phạm tội 05 lần, trong đó có 03 lần chiếm đoạt mỗi lần trên 2.000.000 đồng nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Ngày 30/12/2022 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo áp dụng biện pháp xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng, bị cáo chưa chấp hành. Ngoài ra, bị cáo còn có nhân thân xấu: Tại Bản án hình sự số 286/2019/HSPT, ngày 24/9/2019 bị cáo V bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, sau khi chấp hành xong hình phạt không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt thật nghiêm đối với bị cáo V để từng trị, đồng thời cải tạo, giáo dục bị cáo. Ngoài ra, còn răn đe, phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản bị cáo V chiếm đoạt có giá trị không lớn, một số đã được thu hồi trả cho chủ sở hữu; bị cáo P phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, tự nguyện trả lại số tiền thu lợi bất chính, khắc phục hậu quả. Như vậy, bị cáo V được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm h, r, s khoản 1 Điề 51 của Bộ luật Hình sự, bị cáo P được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Xét thấy, không cần thiết phải cách ly bị P ra khỏi đời sống xã hội, mà cho bị cáo được hưởng án treo để tự rèn luyện mình dưới sự giám sát của gia đình và chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng trừng trị, răn đe đối với bị cáo.

Đối với Nguyễn Văn M có hành vi mua xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Taurus do Lương Văn V mang đến bán. P mua xe mô tô 77S9 – 8938, mua xe mô tô Honda Wave Alpha, mua xe mô tô 47H9-2567 do V mang đến bán. Tuy nhiên, các lần mua này M, P không biết là tài sản do V phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý M và P về hành vi tiêu thụ các tài sản này.

Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa các bị hại bà Y, bà N và bà T yêu cầu bị cáo V bồi thường số tiền các tài sản bị cáo V chiếm đoạt được xác định theo kết quả định giá như sau: bà Y 1.100.000 đồng, bà N là 3.500.000 đồng, bà T là 1.500.000 đồng. Các bị cáo V, P và các bị hại bà Y, bà N và bà thỏa thuận đối với số tiền 1.570.000 đồng mà bị cáo P nộp để khắc phục hậu quả như sau: Bồi thường, khắc phục hậu quả cho bà Y 500.000 đồng, bà N 570.000 đồng, bà 500.000 đồng. Vì vậy, cần buộc bị cáo V tiếp tục bồi thường cho bà 600.000 đồng, bà N 2.930.000 đồng, bà T 1.000.000 đồng. Ông M không yêu cầu về dân sự nên không đề cập giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Cần chấp nhận việc Công an huyện Ea H’Leo đã trả lại cho ông Huỳnh Ngọc H xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Taurus, màu đỏ, số khung RLCS16S208Y012626, số máy 16S2-012631; trả lại cho ông Nguyễn Văn T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đỏ và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 52Y5-5740; trả lại cho bà Hoàng Thị Y giấy sang nhượng xe (viết tay) xe mô tô biển số 77S9-8938; trả lại cho bà Trần Thị T giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 47H9-2567 là các chủ sở hữu hợp pháp.

Đối với 01 áo thun ngắn tay màu đen, trên ngực áo có dòng chữ “Fearow” màu xanh; 01 quần Jean dài màu xanh, là trang phục Lương Văn V mặc để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, đã hết giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí hình sự, án phí dân sự: Cần buộc bị cáo Lương Văn V, Hoàng Thị Thùy P phải chịu án phí hình sự, án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lương Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Hoàng Thị Thùy P phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm h, r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lương Văn V 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 21/7/2023.

3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; các điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hoàng Thị Thùy P 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trong thời gian thử thách giao bị cáo Hoàng Thị Thùy P cho Ủy ban nhân dân xã Ea Nam, huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

4. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 46, Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 589 của Bộ luật Dân sự. Chấp nhận việc bị cáo V, P và các bị hại bà Y, bà N và bà T thỏa thuận đối với số tiền 1.570.000 đồng mà bị cáo P nộp như sau: Bồi thường, khắc phục hậu quả cho bà Hoàng Thị Y 500.000 đồng, bà Nông Thị N 570.000 đồng, bà Trần Thị T 500.000 đồng. Buộc bị cáo V tiếp tục bồi thường cho bà Hoàng Thị Y 600.000 đồng, bà Nông Thị N 2.930.000 đồng, bà Trần Thị T 1.000.000 đồng. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn M không yêu cầu gì về dân sự nên không đề cập xem xét, giải quyết.

5. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự. Chấp nhận việc Công an huyện Ea H’Leo đã trả lại cho ông Huỳnh Ngọc H xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Taurus, màu đỏ, số khung RLCS16S208Y012626, số máy 16S2-012631; trả lại cho ông Nguyễn Văn T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đỏ và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 52Y5-5740; trả lại cho bà Hoàng Thị Y giấy sang nhượng xe (viết tay) xe mô tô biển số 77S9-8938; trả lại cho bà Trần Thị T giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 47H9-2567 là các chủ sở hữu hợp pháp.

Tịch thu, tiêu hủy 01 áo thun ngắn tay màu đen, trên ngực áo có dòng chữ “Fearow” màu xanh; 01 quần Jean dài màu xanh, là trang phục Lương Văn V mặc để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, đã hết giá trị sử dụng. Đặc điểm các vật chứng được lưu tại hồ sơ vụ án.

6. Về án phí hình sự: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lương Văn V, Hoàng Thị Thùy P, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự. Bị cáo Lương Văn V phải chịu 611.500 đồng án phí dân sự.

7. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 1, khoản 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các bị cáo Lương Văn V và Hoàng Thị Thùy P; bị hại bà Hoàng Thị Y, bà Nông Thị N, bà Trần Thị T, ông Nguyễn Văn T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn M có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ