vanban.org

Bản án 82/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước Tuyên án 07/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trương Công Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trương Công Đ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/01/2023. Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ: Điều 46; Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trương Công Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 82/2023/HS-ST
Ngày: 07-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà:

Ông Vũ Đình Kiên

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Kim Thành

Ông Nguyễn Văn Được

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Hoàng Long – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Cao Đăng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 07 tháng 7 năm 2023 tại Toà án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 64/2023/HSST ngày 15 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2023/QĐST- HS ngày 25 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trương Công Đ. Tên gọi khác: Không có. Giới tính: Nam. Sinh năm: 1988 tại Hà Tĩnh. Hộ khẩu thường trú: Thôn S Tr1, xã K S, huyện K A, tỉnh Hà Tĩnh. Chỗ ở: ấp 2, xã T H, thành phố Đ X, tỉnh Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Công nhân. Trình độ học vấn: 9/12. Con ông: Trương Công H, sinh năm 1963. Con bà: Trương Thị B, sinh năm 1963 (đã chết). Bị cáo có 04 anh em ruột, lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1993, bị cáo là con thứ ba trong gia đình. Vợ bị cáo là Nguyễn Thị Ch sinh năm 1991. Bị cáo có 02 con sinh năm 2011 và 2017.

Tiền án: 01. Ngày 13/3/2014 bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh áp dụng Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 29/01/2015 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù và án phí. Bị cáo Trương Công Đ chưa thực hiện trách nhiệm bồi thường dân sự với số tiền 6.200.000 đồng.

Tiền sự: Không có.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đồng Xoài.

Bị hại: Bà Mai Thị Minh D, sinh năm 1983; Địa chỉ: Ấp 2, xã T H, thành phố Đ X, tỉnh Bình Phước.

Tại phiên toà bị cáo có mặt, bà D vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 18/01/2023, Trương Công Đ một mình đi đến nhà nghỉ “Kỳ Anh” thuộc ấp 2, xã Tiến Hưng, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước do bà Mai Thị Minh D làm quản lý để thuê phòng ngủ lại qua đêm. Đến khoảng 03 giờ 30 phút ngày 19/01/2023, Đ thức dậy đi ra khỏi phòng rồi liên hệ với bà D đang nằm ngủ ở ghế (loại ghế bố) để tính tiền trả phòng. Lúc này, Đ nhìn thấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A13, 128G của bà D để trên ghế nên đã nảy sinh ý định lấy trộm mang đi bán lấy tiền tiêu xài. Để thực hiện hành vi, Đ quan sát thấy bà D đang lấy căn cước công dân để trả cho mình thì Đ lấy điện thoại di động hiệu Nokia C20 màu đen của Đ để đè lên chiếc điện thoại của chị D. Sau đó, lợi dụng lúc bà D đang mở cổng của nhà nghỉ thì Đ đã lấy trộm chiếc điện thoại của bà D và cầm điện thoại của Đ cất giấu vào trong túi quần sau bên phải của mình rồi đi bộ ra khỏi nhà nghỉ. Lúc này, bà D phát hiện chiếc điện thoại của mình đã bị mất trộm nên đã tri hô lên thì anh Phạm Đ Kỳ chạy đến cùng với bà D truy đuổi theo Đ được khoảng 50m thì bắt giữ được Đ cùng tang vật, sau đó giao cho Công an xã Tiến Hưng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Kết luận định giá số 08/KL-HĐĐGTS ngày 19/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đồng Xoài (bút lục 20), kết luận:

01 cái điện thoại hiệu Samsung A13, phiên bản 4G, bộ nhớ 128G, màu xanh, số sê ri: R58T80LPBLE, vẫn lên nguồn, còn hoạt động bình thường, đã qua sử dụng, trị giá 2.800.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật: Quá trình điều tra tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A13, màu xanh (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động hiệu Nokia C20 màu đen (đã qua sử dụng); 01 căn cước công dân số 042088003981 mang tên Trương Công Đ; 01 đoạn camera ghi lại nội dung vụ việc (bút lục 23 – 25, 43).

Ngày 20/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đồng Xoài đã xử lý vật chứng trả lại cho bà Mai Thị Minh D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A13, màu xanh (đã qua sử dụng).

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại bà Mai Thị Minh Huệ đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm.

Bản cáo trạng số 80/CTr-VKS, ngày 11 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Trương Công Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trương Công Đ về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Trương Công Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” và xử phạt bị cáo Trương Công Đ từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Tại phiên tòa, bị cáo Trương Công Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước đã truy tố. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận và kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Bị hại bà D có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, việc vắng mặt bị hại, không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ vào, khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

. Về hành vi phạm tội, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản khám nhiệm hiện trường, phù hợp với lời khai của người bị hại cũng như phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 18/01/2023, bị cáo Trương Công Đ một mình đi đến nhà nghỉ “Kỳ Anh” thuộc ấp 2, xã Tiến Hưng, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước do bà Mai Thị Minh D làm quản lý để thuê phòng ngủ lại qua đêm. Đến khoảng 03 giờ 30 phút ngày 19/01/2023, Đ thức dậy đi ra khỏi phòng rồi liên hệ với bà D đang nằm ngủ ở ghế (loại ghế bố) để tính tiền trả phòng. Lúc này, Đ nhìn thấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A13, 128G của bà D để trên ghế nên đã nảy sinh ý định lấy trộm mang đi bán lấy tiền tiêu xài. Bị cáo Đ lợi dụng lúc bà D mở cổng của nhà nghỉ thì Đ đã lấy trộm chiếc điện thoại của bà D cất giấu vào trong túi quần sau bên phải của mình rồi đi bộ ra khỏi nhà nghỉ. Bà D phát hiện chiếc điện thoại của mình đã bị mất trộm nên đã tri hô lên và truy đuổi được khoảng 50m thì bắt được bị cáo Đ cùng chiếc điện thoại của bà D.

Kết luận định giá tài sản số: 08/KL-HĐĐGTS ngày 19/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đồng Xoài (bút lục 20), kết luận: 01 cái điện thoại hiệu Samsung A13, phiên bản 4G, bộ nhớ 128G, màu xanh, số sê ri: R58T80LPBLE, vẫn lên nguồn, còn hoạt động bình thường, đã qua sử dụng, trị giá là 2.800.000 đồng.

Căn cứ vào hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản và giá trị tài sản chiếm đoạt của bị cáo Đ thì hành vi của bị cáo Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; Có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo đã bị kết án về hành vi chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Tài sản trộm cắp đã được thu hồi và trả lại cho bị hại, bị cáo có con còn nhỏ. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

[5]. Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người không có việc làm, thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

. Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại bà D đã nhận lại tài sản bị mất và không có yêu cầu khác nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về vật chứng của vụ án:

01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A13, màu xanh (đã qua sử dụng) đã trả lại cho bị hại D nên Hội đồng xét xử không xem xét;

01 điện thoại di động hiệu Nokia C20 màu đen (đã qua sử dụng); 01 căn cước công dân số 042088003981 mang tên Trương Công Đ là tài sản của bị cáo Trương Công Đ không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo Đ.

. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đ phải chịu 200.000đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

1. Tuyên bố bị cáo Trương Công Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt bị cáo Trương Công Đ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/01/2023.

3. Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ: Điều 46; Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Trả lại cho bị cáo Trương Công Đ: 01 điện thoại di động hiệu Nokia C20 màu đen (đã qua sử dụng); 01 căn cước công dân số 042088003981 mang tên Trương Công Đ.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0002130 ngày 02/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài)

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trương Công Đ phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Trương Công Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại Mai Thị Minh D vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ