- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Hiền trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG NINH ––––––––––––––– Bản án số: 82/2023/HS-ST Ngày: 19/9/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Đỗ Thị Hương Lan.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Giang
Bà Đinh Thanh Hoàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thu Trang- Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Đặng Quang Quyết - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2023 tại Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị H1; tên gọi khác: không; sinh ngày 22/8/1972 tại Hải Hà, Quảng Ninh; Nơi đăng ký thường trú: thôn B1, xã V1, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2 và bà Đoàn Thị Đ1; có chồng và 03 con;
Tiền án: ngày 09/02/2004, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, xử phạt 24 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 28/4/2005, được đặc xá tha tù trở về địa phương, đến nay chưa thi hành xong phần bồi thường dân sự của bản án (người bị hại đã có đơn yêu cầu thi hành án);
Tiền sự: không có;
Nhân thân: ngày 04/11/2003, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, xử phạt 12 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”;
Ngày 05/11/2003, bị Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, xử phạt 15 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”;
Ngày 27/9/2005, bị Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, xử phạt 18 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”;
Ngày 20/6/2007, bị Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, xử phạt 42 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”;
Ngày 24/12/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, xử phạt 48 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”;
Ngày 12/3/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, xử phạt 42 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo Nguyễn Thị H1 bị bắt quả tang ngày 21/6/2023, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/6/2023, tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Móng Cái.
*/ Bị hại: Vũ Thị T1, sinh năm 1956; địa chỉ: khu 2, phường B1, thành phố Móng Cái, Quảng Ninh, có đơn xin xét xử vắng mặt.
*/ Người làm chứng: Phạm Quang S1, Phạm Văn Bỉnh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền ăn tiêu, nên khoảng 15 giờ ngày 21/6/2023, Nguyễn Thị H1 cầm theo 01 chiếc túi nilon, màu đỏ đi đến khu vực quầy bán hàng cá của bà Vũ Thị T1 ở chợ Ka Long thuộc khu 5, phường Ka Long, thành phố Móng Cái. Tại đây, H1 phát hiện thấy chiếc ví cầm tay, màu đỏ của bà T1 để trong một chiếc rổ, bên cạnh nơi bà T1 ngồi, không có người trông coi, nên nảy sinh ý định trộm cắp lấy tiền ăn tiêu. Để thực hiện ý định trên, H1 đi đến quầy hàng của bà T1, ngồi xuống và giả vờ hỏi mua 01 kg cá đốm, bà T1 đồng ý bán. Lợi dụng trong lúc bà T1 nhặt cá, không để ý, H1 lấy trộm chiếc ví cầm tay của bà T1 cho vào chiếc túi nilon màu đỏ, rồi đứng dậy, bỏ đi về phía cổng chợ. Ngay lúc này, bà T1 phát hiện bị mất ví tiền, nên hô hoán và cùng với anh Phạm Quang S1 (là Bảo vệ chợ) và anh Phạm Văn Bỉnh (là người bán hàng) đuổi theo. H1 vứt lại chiếc ví cầm tay xuống đường và tiếp tục bỏ chạy, thì bị Tổ công tác của Công an phường Ka Long, thành phố Móng Cái và người dân đuổi theo, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ của H1 01 chiếc túi nilon, màu đỏ kích thước (40x30)cm; Ngoài ra, Công an còn thu giữ 01 chiếc ví cầm tay giả da, màu đỏ, kích thước (20x10x2,5)cm, có khóa kéo, trên mặt ví có chữ “CC”, bên trong có tổng cộng 8.300.000 đồng, do bà Vũ Thị T1, giao nộp; 01 chiếc USB lưu giữ hình ảnh Nguyễn Thị H1 vứt chiếc ví xuống đường, do anh Trần Văn Cường giao nộp.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 432/KL-ĐGTS ngày 26/6/2023, của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thành phố Móng Cái, kết luận: 01 chiếc ví cầm tay giả da, màu đỏ, kích thước (20x10x2,5)cm, trên mặt ví có chữ “CC”, trị giá 100.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: ngày 03/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Móng Cái, đã trả lại 01 chiếc ví cầm tay giả da, màu đỏ và số tiền 8.300.000 đồng cho bà Vũ Thị T1. Đối với 01 chiếc túi nilon, màu đỏ kích thước (40x30)cm, Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng, chờ xử lý theo quy định.
Bản Cáo trạng số 79/CT-VKSMC ngày 28/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố bị cáo Nguyễn Thị H1 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thị H1 thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Bản Cáo trạng đã nêu.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt, bị hại là bà Vũ Thị T1 có quan điểm đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu về bồi thường, đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người làm chứng là anh Phạm Quang S1 và Phạm Văn Bỉnh vắng mặt tại phiên tòa nhưng lời khai có trong hồ sơ xác định: anh S1 làm bảo vệ trông xe và anh Bỉnh bán hoa quả tại cồng chính chợ Ka Long - thuộc khu 5, phường Ka Long, Móng Cái. Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 21/6/2023 các anh nghe thấy tiếng bà T1 (bán cá ở chợ Ka Long) hô hoán “Trộm, trộm”, đồng thời thấy 01 phụ nữ (sau này biết tên là Nguyễn Thị H1) đi nhanh qua trước mặt hai anh về hướng đường Nguyễn Viết Xuân còn bà T1 thì đang đuổi theo sau. Thấy vậy hai anh đuổi theo thì thấy H1 lấy từ trong túi bóng nhựa màu đỏ 01 chiếc ví cầm tay màu đỏ vứt xuống đường rồi tiếp tục bỏ chạy. Hai anh cùng bà T1 vừa hô hoán vừa truy đuổi thì thấy lực lượng công an phường Ka Long giữ được H1. Khi đó bà T1 trình bày lại sự việc Nguyễn Thị H1 lợi dụng sơ hở để trộm cắp ví tiền của bà T1. Tại cơ quan công an phường, các anh được chứng kiến việc kiểm tra tài sản bên trong chiếc ví giả da màu đỏ của bà T1 có số tiền 8.300.000đ (tám triệu ba trăm nghìn đồng).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H1 15 tháng đến 18 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/6/2023.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho bị hại, nên không đề cập xử lý. Đối với 01 chiếc túi nilon, màu đỏ kích thước (40x30)cm thu giữ của Nguyễn Thị H1 không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu bồi thường dân sự nên không xem xét giải quyết.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội mà kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa. Nói lời sau cùng, bị cáo ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Móng Cái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng là bị hại, người làm chứng, thấy rằng những người này đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy quá trình điều tra đã có lời khai và có đơn xin xét xử vắng mặt nên việc vắng mặt của họ không trở ngại cho việc xét xử, do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng trên.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung đã khai nhận tại cơ quan điều tra cùng với các tài liệu chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy đủ căn cứ để kết luận bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau: khoảng 15 giờ ngày 21/6/2023, tại khu 5, phường Ka Long, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Thị H1 có hành vi trộm cắp 01 chiếc ví cầm tay giả da, màu đỏ, trị giá 100.000 đồng và 8.300.000 đồng của bà Vũ Thị T1. Tổng số tiền, tài sản chiếm đoạt là 8.400.000đ (Tám triệu bốn trăm nghìn đồng).
Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị H1 đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái đã truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý; xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy cần phải có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, lấy giáo dục riêng để phòng ngừa tội phạm chung.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có nhân thân rất xấu, đã nhiều lần bị Tòa án xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng không lấy đó là bài học để rèn luyện, tu dưỡng bản thân. Tình tiết tăng nặng: bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị H1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản bị cáo trộm cắp đã được thu hồi trả cho bị hại; bị hại đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu hồi được tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt trả lại cho người bị hại. Người bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc túi nilon, màu đỏ kích thước (40x30)cm thu giữ của Nguyễn Thị H1 không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Nguyễn Thị H1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H1 18 (mười tám) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc túi nilon, màu đỏ kích thước (40x30)cm
Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 107/2023/THA ngày 29/8/2023.
Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016, quy định về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Thị H1 phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: áp dụng khoản 1 Điều 331; khoản 1, 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết tại nơi thường trú.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND thành phố Móng Cái; - Đội hồ sơ nghiệp vụ CA thành phố Móng Cái; - CCTHADS thành phố Móng Cái; - Cơ quan quản lý TG, TG CA thành phố Móng Cái; - Bị cáo; bị hại - THA, Lưu VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hương Lan |