vanban.org

Bản án 82/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 26/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ điểm a,i khoản 1 Điều 134; điểm i,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự

Tuyên bố bị cáo Dương Hoài Th phạm tội "Cố ý gây thương tích". Xử phạt bị cáo Dương Hoài Th 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Hoài Th - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ điểm a,i khoản 1 Điều 134; điểm i,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự
  • Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự Tuyên bố; Điều 51 Bộ luật Hình sự Tuyên bố; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2023/HS-ST
Ngày 26 - 4 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phạm Hồng Xuyên

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hoàng Kha

2. Ông Võ Thanh Liêm

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thắm – Thư ký viên Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Hải - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Dương Hoài Th, sinh ngày 19/4/2004; nơi thường trú: ấp Tân Trung, xã T, huyện C, tỉnh C; chổ ở hiện nay: Ấp 1, xã Tắc V, thành phố C, tỉnh C; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 6/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Minh Ch và bà Trà Thị Mỹ D; tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân: Ngày 15/3/2019 bị Công an huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 212/QĐ-XPVPHC về hành vi trộm cắp tài sản, hình thức phạt cảnh cáo.

Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/12/2022 đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt.

- Bị hại: Anh Trần Tín Đ, sinh năm 2002 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 4, xã Tắc V, thành phố C, tỉnh C.

- Người làm chứng:

1. Anh Phan Tỷ U, sinh năm 1997 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 2, xã Tắc V, thành phố C, tỉnh C;

2. Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1978 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 3, xã Tắc V, thành phố C, tỉnh C.

2. Anh Huỳnh Đại L, sinh năm 1986 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 2, xã Tắc V, thành phố C, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 30 ngày 08/10/2022, Dương Hoài Th phát hiện Trần Tín Đ, sinh năm 2002, ngụ ấp 4, xã Tắc Vân, thành phố Cà Mau ngồi uống cà phê tại Quán 79 thuộc ấp 1, xã Tắc Vân, thành phố Cà Mau, Th nhớ lại việc trước đây Đ chửi mình nên nảy sinh ý định chém Đ. Th đi về nhà lấy cây dao dài 62cm, cán bằng gỗ dài 22cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 42cm, mũi dao nhọn và lấy áo màu đen quấn con dao lại, sau đó mang đến quán cà phê nơi Đ ngồi uống nước. Khi Th đến quán, lúc này Đ ngồi chung bàn với Phan Tỷ Út và Đ quay lưng ra ngoài, bất ngờ Th đến móc dao ra chém vào lưng của Đ, Đ đứng lên định bỏ chạy thì vướn vào cái bàn nên Đ bị ngã, Th tiếp tục chém Đ thì Đ đưa tay phải lên đỡ làm bị Th ở tay. Lúc này Tỷ Út và Nguyễn Minh Tấn can ngăn nên Th bỏ đi, còn Đ đến Công an xã Tắc Vân trình báo. Công an xã Tắc Vân đến hiện trường và thu giữ con dao mà Th dùng để chém Đ.

Tại Giấy chứng nhận thương tích số 222/CN ngày 08/10/2022 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Cà Mau thể hiện:

- Tình trạng vào viện:

+ Vết thương cẳng tay phải khoảng 02cm

+ Trầy xước bả vai.

- Chẩn đoán: Vết thương cẳng tay phải.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 231/TgT-22 ngày 07/12/2022 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh Cà Mau, kết luận: 01 vết sẹo 1/3 giữa mặt ngoài cẳng tay phải, kích thước 3,5cm x 0,5cm, tỷ lệ 02%, do vật sắc hoặc vật sắc nhọn gây ra.

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định tính theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế là: 02% (Hai phần trăm).

Tài liệu, đồ vật thu giữ và xử lý trong vụ án, bao gồm: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an Tp. Cà Mau có thu giữ 01 cây dao (có đặc điểm dài 62cm, cán dao bằng gỗ dài 22cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 42cm, mũi nhọn).

Đối với Trần Tín Đ, sau khi bị gây thương tích thì Đ chỉ yêu cầu xử lý Dương Hoài Th theo quy định pháp luật và không yêu cầu bồi thường tiền thuốc.

Tại bản cáo trạng số 74/CT-VKS ngày 09 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Dương Hoài Th về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i,s khoản 1 Điều 51, điểm đ khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Hoài Th từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 cây dao dài 62cm, cán dao bằng gỗ dài 22cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 42cm, mũi nhọn.

Ý kiến của bị cáo: Bị cáo thừa nhận lời khai trong quá trình điều tra là do tự nguyện khai, không bị ép buộc hay bị bức cung hoặc dùng nhục hình. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên và thống nhất với kết luận giám định. Đồng thời, bị cáo xác định Cáo trạng truy tố không oan sai, đúng với hành vi bị cáo gây ra cho bị hại. Bị cáo đã biết lỗi và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cà Mau, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Dương Hoài Th khai nhận: Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 08/10/2022 tại ấp 1, xã Tắc Vân, thành phố Cà Mau, Dương Hoài Th có hành vi dùng dao chém trúng vào tay phải Trần Tín Đ gây thương tích 02%.

Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo nhận thức và biết được việc dùng dao là “hung khí nguy hiểm” chém trúng bị hại sẽ gây ra thương tích nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, dẫn đến hậu quả gây thương tích cho bị hại là 02% và bị hại có yêu cầu xử lý hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo xác định nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo dùng dao chém bị hại là do trước đó bị cáo chạy xe có “đùa giỡn với bạn” và bị hại chửi bị cáo nên vào ngày 08/10/2022 khi thấy bị hại ngồi uống nước tại quán cà phê 79 bị cáo nảy xin ý định chém bị hại. Xét thấy chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà bị cáo lại dùng dao chém gây thương tích cho bị hại thể hiện bản tính hung hăn, côn đồ, thích dùng bạo lực để giải quyết vấn đề khi có mâu thuẫn phát sinh. Đây được xác định là tình tiết phạm tội “có tính chất côn đồ” không phải “vì động cơ đê hèn” và tình tiết này được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Việc Đại diện Viện kiểm sát đề nghị truy tố bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự và áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội vì động cơ đê hèn” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự là chưa phù hợp.

Như đã phân tích trên, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Cố ý gây thương tích" theo quy định tại điểm a và i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

[3] Xét tính chất, mức độ và hành vi của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của bị hại, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý lo sợ trong quần chúng nhân dân. Chỉ vì xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ mà bị cáo lại dùng dao chém bị hại gây thương tích. Hành vi của bị cáo thể hiện sự hung hăn, xem thường pháp luật, xem thường tính mạng, sức khỏe của người khác. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm, áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người tốt, đồng thời để răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Như đã phân tích tại phần [2] hành vi của bị cáo là “có tính chất côn đồ”, không phải là “động cơ đê hèn”. Theo quy định tại khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự quy định “Các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng”. Do đã áp dụng điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình Sự nên không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4.3] Về nhân thân, bị cáo là người có nhân thân không tốt, ngày 15/3/2019 bị Công an huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, hình thức Cảnh cáo.

[5] Với những đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên được xem xét chấp nhận.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 cây dao có đặc điểm dài 62cm, cán dao bằng gỗ dài 22cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 42cm, mũi nhọn là hung khí mà bị cáo dùng để gây thương tích cho bị hại nên cần tịch thu tiêu hủy theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a,i khoản 1 Điều 134; điểm i,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự

Tuyên bố bị cáo Dương Hoài Th phạm tội "Cố ý gây thương tích".

Xử phạt bị cáo Dương Hoài Th 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 cây dao dài 62cm, cán dao bằng gỗ dài 22cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 42cm, mũi nhọn (đã niêm phong).

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/3/2023 giữa Cơ quan điều tra Công an thành phố Cà Mau và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau).

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (chưa nộp).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ