- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 82/2023/HNGĐ-ST Ngày: 14/4/2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Đào
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh.
Bà Thiều Thị Phi Loan
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đông - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 4 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 3048/2022/TLST-HNGĐ, ngày 16/11/2022 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 214/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 203/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 22/3/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1977.
Địa chỉ: Tổ 14, khu phố 4, phường Trảng Dài, thành phố Biên Hòa tỉnh Đồng Nai.
2. Bị đơn: Anh Ngô Tiến Đ, sinh năm 1971.
Địa chỉ: Tổ 14, khu phố 4, phường Trảng Dài, thành phố Biên Hòa tỉnh Đồng Nai.
(Chị Th có đơn xin vắng mặt, anh Đ vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai chị Phạm Thị Th trình bày:
Chị và anh Ngô Tiến Đ tự tìm hiểu, tự nguyện kết hôn với nhau; có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã Gia Hiệp, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 11/5/2005. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau. Nguyên nhân, mâu thuẫn phát sinh chủ yếu do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Dù hai bên đã cố gắng hòa giải đoàn tụ nhưng vẫn không thể đoàn tụ để xây dựng gia đình hạnh phúc. Nay chị không còn tình cảm với anh Đ nên đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là cháu Ngô Thúy A, sinh ngày 13/02/2004 và cháu Ngô Thúy G, sinh ngày 15/10/2018. Ly hôn, chị Thập đề nghị được nuôi dưỡng con chung chưa trưởng thành là cháu Thúy G, yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 1.000.000đ/01 tháng. Đối với cháu Thúy A đã trưởng thành và có khả năng lao động nên chị Th không yêu cầu gì.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 15/3/2023, chị Phạm Thị Th có đơn xin rút yêu cầu cấp dưỡng. Theo đó, chị Thập không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Theo bản tự khai anh Ngô Tiến Đ trình bày. Về quan hệ hôn nhân như chị Thập trình bày. Nay chị Th yêu cầu ly hôn với anh thì anh không đồng ý.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là cháu Ngô Thúy A, sinh ngày 13/02/2004 và cháu Ngô Thúy G, sinh ngày 15/10/2018. Trường hợp, chị Th kiên quyết ly hôn thì anh đề nghị được nuôi dưỡng cháu Ngô Thúy G, sinh ngày 15/10/2018, không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với cháu A đã trưởng thành nên anh không có yêu cầu gì.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai:
Về việc tuân thủ quy định của thẩm phán, thư ký, hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, việc chấp hành pháp luật của bị đơn là không đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Th đối với bị đơn anh Ngô Tiến Đ về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Về quan hệ hôn nhân: Chị Th được ly hôn với anh Đ, về con chung: Đối với cháu Ngô Thúy A, sinh ngày 13/02/2004 hiện nay đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không xem xét. Giao con chung là cháu Ngô Thúy G, sinh ngày 15/10/2018 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời, anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Chị T khai không yêu cầu giải quyết, anh Đ vắng mặt tại các phiên xét xử nên tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự:
Nguyên đơn chị Phạm Thị Th khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ngô Tiến Đ căn cứ Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định chị Thập là nguyên đơn, anh Đạt là bị đơn trong vụ án.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Ngô Tiến Đ hiện nay đang cư trú tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Về thủ tục tố tụng khác:
Ngày 27/02/2023 nguyên đơn chị Phạm Thị Th có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Ngô Tiến Đ đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Thập, anh Đạt.
Ngày 15/3/2023 nguyên đơn chị Phạm Thị Th có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện. Theo đó, chị Thập rút lại yêu cầu cấp dưỡng, không yêu cầu anh Ngô Tiến Đphải cấp dưỡng nuôi con chung. Việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của chị Thập là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Th và anh Ngô Tiến Đ tự nguyện kết hôn, có làm thủ tục đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Gia Hiệp, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 11/5/2005 nên căn cứ vào các Điều 9, 11, 12 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, chị Thập xác định không còn tình cảm với anh Đạt, do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã, to tiếng với nhau. Nay nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng với anh Đạt nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đạt. Anh Đ có lời khai không đồng ý ly hôn với chị Th.
Theo biên bản xác minh mâu thuẫn tại địa phương ngày 15/02/2023 nơi chị T và anh Đ sống chung với nhau xác định mâu thuẫn giữa các đương sự địa phương không nắm rõ do các đương sự không trình báo. Mặc dù, địa phương không nắm được mâu thuẫn giữa chị Th và anh Đ, còn anh Đ mong muốn gia đình hàn gắn đoàn tụ nhưng lại vắng mặt tại các buổi xét xử của Tòa án là có ý bỏ mặc Tòa án giải quyết việc ly hôn giữa anh và chị Th. Mặt khác, anh Đ không đồng ý ly hôn nhưng chị Th vẫn kiên quyết yêu cầu ly hôn là cho thấy, cuộc sống hôn nhân của chị Th và anh Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ những phân tích trên cho thấy, yêu cầu ly hôn của chị Thập là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là cháu Ngô Thúy A, sinh ngày 13/02/2004 và cháu Ngô Thúy G, sinh ngày 15/10/2018. Ly hôn, chị Thập đề nghị được nuôi dưỡng con chung chưa trưởng thành là cháu Thúy G, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với cháu Thúy A đã trưởng thành và có khả năng lao động nên chị T không yêu cầu gì. Xét yêu cầu này của chị T là có căn cứ chấp nhận vì cháu G là con gái lại còn rất nhỏ cần được sự gần gũi, chỉ dạy, bảo ban của người mẹ. Mặt khác, cháu G cũng có lời khai muốn được sống cùng chị T nên việc giao cháu G cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là cần thiết. Tạm thời, anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Ngô Thúy A, sinh ngày 13/02/2004 đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không xem xét.
Về tài sản chung: Không xem xét.
Về nợ chung: Không xem xét.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phù hợp với chứng cứ có tại hồ sơ và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Chị Phạm Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) chị T đã nộp theo biên lai thu số 0004916 ngày 10/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa được tính trừ vào án phí chị T phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH;
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 68, khoản 4 Điều 147, Điều 220, Điều 228, 266 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 51, 56, 57, 58, 71, 81, 82, 83, 84; khoản 1 Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 9, 11, 12 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;
Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Th đối với bị đơn anh Ngô Tiến Đ về việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Th đối với bị đơn anh Ngô Tiến Đ về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Th được ly hôn với anh Ngô Tiến Đ.
Về con chung: Giao con chung là cháu Ngô Thúy G, sinh ngày 15/10/2018 cho chị Phạm Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Đ được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản anh Đ thực hiện quyền này. Trong trường hợp cần thiết một trong các bên có quyền xin thay đổi quyền trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật
Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
Về án phí: Chị Phạm Thị Th phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) chị T đã nộp theo biên lai thu số 0004916 ngày 10/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa được tính trừ vào án phí chị T phải chịu.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND thành phố Biên Hòa; - Chi cục THADS TP.Biên Hòa - UBND nơi ĐKKH; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. . | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Đào |