vanban.org

Bản án 82/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về hôn nhân: Bà Trượng Thị N được ly hôn với ông Vạn Ngọc Đ. Về con chung: Bà Trượng Thị N có quyền và nghĩa vụ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 01 người con chung là cháu Vạn Ngọc C–sinh ngày 21/02/2016. Ông Vạn Ngọc Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 30/8/2023
V/v:"ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NINH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Ngọc Minh.

2. Bà Lê Thị Hường.

-Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quen-Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài–Kiểm sát viên.

Ngày 30/8/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 207/2023/TLST-HNGĐ, ngày 14/7/2023 về việc "ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/8/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 71/2023/QĐHNGĐ-ST ngày 18/8/2023 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Bà Trượng Thị N -sinh năm 1998 (có mặt)

Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện N, Ninh Thuận.

-Bị đơn: Ông Vạn Ngọc Đ -sinh năm 1992 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Thôn T1, xã P, huyện N, Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trượng Thị N trình bày: Bà và ông Vạn Ngọc Đ tự nguyện chung sống với nhau năm 2014, đến năm 2016 mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã P-N. Quá trình vợ chồng chung sống hay xảy ra cải vả, do bất đồng quan điểm sống. Từ cuối năm 2016 thì ông Đảm bỏ về nhà cha mẹ ruột ông Đ ở cho đến nay, vợ chồng không qua lại với nhau. Tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Đ.Về con chung có 01 người con tên Vạn Ngọc C–sinh ngày 21/02/2016, trong khoảng thời gian vợ chồng sống ly thân thì bà trực tiếp nuôi con, ông Đ không quan tâm đến con. Khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không có.

Bị đơn ông Vạn Ngọc Đ: Vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý hồ sơ cho đến phiên tòa xét xử hôm nay nên không có lời trình bày.

Chính quyền địa phương thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận-nơi ông Đ và bà N sinh sống xác nhận: ông Đ và bà N chung sống không hợp, vợ chồng sống ly thân nhiều năm, không qua lại với nhau.

Đại diện Viện kiểm sát huyện N phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử (HĐXX) nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và thư ký phiên tòa luôn tuân theo pháp luật tố tụng; Nguyên đơn luôn chấp hành pháp luật. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng Tòa án đã thực hiện tống đạt thủ tục tố tụng theo quy định và xét xử vắng mặt bị đơn là đúng pháp luật. Về nội dung: đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân bà Trượng Thị N được ly hôn với ông Vạn Ngọc Đ. Về con chung có 01 người con nên giao cho bà N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà N không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết. Về án phí bà N phải chịu theo pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên. HĐXX sơ thẩm nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Bà Trượng Thị N có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn ông Vạn Ngọc Đ, yêu cầu được nuôi con. Đơn kiện đảm bảo về nội dung, hình thức. Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện N. Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của BLTTDS, HĐXX xác định đây là vụ án Dân sự loại Hôn nhân gia đình về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Đối với bị đơn ông Vạn Ngọc Đ vắng mặt trong suốt quá trình từ khi thụ lý vụ án, tiến hành phiên hòa giải, đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng theo quy định của BLTTDS, nhưng bị đơn vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trượng Thị N và ông Vạn Ngọc Đ tự nguyện chung sống với nhau, có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 125 ngày 22/8/2016 tại Ủy ban nhân dân xã P-N-Ninh Thuận, nên xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình sống chung vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không hợp nhau. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay, không còn quan tâm nhau.

Xét thấy, hôn nhân của giữa bà N và ông Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà N.

Về con chung: Bà N và ông Đ có 01 người con chung tên Vạn Ngọc C–sinh ngày 21/02/2016. Hiện con đang sống cùng với bà N. Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử ông Đ vắng mặt, không có ý kiến gì đối với yêu cầu nuôi con của bà N, từ khi vợ chồng sống ly thân chính bà N là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con.

Xét thấy, hiện con đang sống cùng với bà N và bà N chăm sóc con tốt, ông Đ không quan tâm đến con. Vì vậy HĐXX căn cứ Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận giao con chung cho bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con do bà N không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà N không yêu cầu nên không xét.

Căn cứ vào những phân tích trên, xét thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N là phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

Về án phí: Bà N phải chịu án phí 300.000đ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điểm a, b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 6, Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1.Về hôn nhân: Bà Trượng Thị N được ly hôn với ông Vạn Ngọc Đ.

2.Về con chung: Bà Trượng Thị N có quyền và nghĩa vụ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 01 người con chung là cháu Vạn Ngọc C–sinh ngày 21/02/2016. Ông Vạn Ngọc Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3.Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

4.Về án phí: Bà Trượng Thị N phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0008265 ngày 12/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Bà Trượng Thị N đã nộp đủ án phí.

5.Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm có mặt nguyên đơn-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt bị đơn-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày niêm yết bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ