vanban.org

Bản án 82/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

p dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

p dụng khoản 1 khoản 3 Điều 84 và khoản 6 Điều 118 của Luật Hôn nhân và gia đình. p dụng khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Chị T xin thay đổi việc nuôi con với anh T"
  • Tòa quyết gì? p dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 19 - 9 - 2023.
V/v thay đổi người trực tiếp
nuôi con sau ly hôn.

NHÂN DANH

N ỚC CỘNG H A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

T A ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH VĨNH LONG

- Th nh ph n H

n

h

c :

Thẩm phán - Ch t a phiên tòa: Ông Hồ Thanh Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Ngọc Thu.

Ông Trần Quang Đông.

- Th

ph n a: Ông Ngô Minh Bảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

Ngày 19 tháng 9 năm 2023 tại phòng xử án, Tòa án nhân dân thành phố V tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 206/2023/TLST-HNGĐ, ngày 22 tháng 6 năm 2023 về “tranh ch p thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 97/2023/QĐST-DS ngày 28/8/2023, giữa các đương sự:

- N uy n n: Chị Trần Ngọc Bảo T, sinh năm 1987; nơi cư trú: Số nhà 74, đường P, Khóm M, Phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long; nơi ở hiện nay: Số nhà 39, đường N, Phường B, thành phố V, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, có đơn xin vắng mặt.

- B n: Anh Phùng Cao Bảo T, sinh năm 1991; nơi cư trú: Số nhà 121, đường P, Khóm M, Phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long, vắng mặt.

NỘI D NG V ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 28 tháng 5 năm 2023 nguyên đơn chị Trần Ngọc Bảo T trình bày: Chị và anh Phùng Cao Bảo T là vợ chồng, nhưng đã ly hôn theo Quyết định số 147/2015/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2015, khi ly hôn do chị không đủ điều kiện để nuôi con, nên chị đồng ý để anh T nuôi dưỡng cháu 02 người con chung là Phùng Cao Thủy T, sinh ngày 05/6/2009 và Phùng Cao Bảo V, sinh ngày 25/7/2013, chị có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng.

Sau 02 năm ly hôn thì anh T đã kết hôn với người khác, hiện nay cháu T có nguyện vọng về sống với chị. Hiện nay chị đã có việc làm, thu nhập ổn định, nên chị yêu cầu thay đổi việc nuôi con, chị yêu cầu được nuôi dưỡng cháu T theo nguyện vọng của cháu T và chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng đối với cháu V, vì mỗi người nuôi dưỡng 01 người con, thực tế hiện nay cháu T cũng đã về sống với chị.

Anh Phùng Cao Bảo T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do.

NH N Đ NH CỦA T A ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1 Về tố tụng: Chị Trần Ngọc Bảo T yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn là cháu Phùng Cao Thủy T mà hiện nay anh Phùng Cao Bảo T đang nuôi dưỡng, anh T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thành phố V.

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố V, Tòa án nhân dân thành phố V thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, anh T đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần vắng mặt không có lý do, chị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định.

[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn: Theo chứng cứ do chị T cung cấp có trong hồ sơ vụ án, thể hiện anh T và chị T đã ly hôn theo quyết định số 147/2015/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2015. Khi ly hôn anh T trực tiếp nuôi hai người con chung gồm Phùng Cao Thủy T, sinh ngày 05/6/2009 và Phùng Cao Bảo V, sinh ngày 25/7/2013, chị T có nghĩa vụ cấp dưỡng, nhưng hiện nay chị T có việc làm, có thu nhập ổn định chị có yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung là cháu Phùng Cao Thủy T, sinh ngày 05/6/2009 và tại biên bản lấy lời khai ngày 20/7/2023 cháu T có trình bày nguyện vọng là sống với mẹ (chị T), nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị T về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sáu ly hôn, chấp nhận cho chị T nuôi dưỡng cháu T là đúng với quy định tại khoản 1 khoản 3 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về cấp dưỡng: Theo quyết định số 147/2015/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2015 của Tòa án nhân dân thành phố V, chị T có nghĩa vụ cấp dưỡng 1.500.000 đồng/02 người con, nhưng hiện nay cháu T được chấp nhận cho chị T nuôi dưỡng, nên xét yêu cầu của chị T về việc chấp dứt việc cấp dưỡng nuôi con theo quyết định nêu trên là có căn cứ chấp nhận, đúng với quy định tại khoản 6 Điều 118 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[5] Về án phí: Ghi nhân sự tự nguyện của chị T về việc chịu tiền án phí, số tiền phải nộp 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

Q T Đ NH

p dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

p dụng khoản 1 khoản 3 Điều 84 và khoản 6 Điều 118 của Luật Hôn nhân và gia đình.

p dụng khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Trần Ngọc Bảo T. Giao cháu Phùng Cao Thủy T, sinh ngày 05/6/2009 cho chị T có trách nhiên nuôi dưỡng.

Không ai được quyền ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung đối với anh T, nhưng nếu anh T lạm dụng việc thăm nom để gây cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con đối với anh T.

2. Chị Trần Ngọc Bảo T được quyền chấm dứt việc cấp dưỡng theo quyết định số 147/2015/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2015 của Tòa án nhân dân thành phố V.

3. Về án phí sơ thẩm:

- Buộc anh Phùng Cao Bảo T nộp 300.000 đồng a tr m ngàn đồng tiền án phí sơ thẩm.

- Ghi nhân sự tự nguyện của chị Thy về việc chịu tiền án phí, số tiền phải nộp 300.000 đồng, trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng a tr m ngàn đồng) chị Thy đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V, theo biên lai thu tiền số 0002144 ngày 12/6/2023, chị T đã nộp đủ tiền án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ