- Tranh chấp gì? án hành chính — "Nguyễn Thị Thanh H kiện UBND huyện C"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị H1, ông Phạm Văn Nh.
- Căn cứ chính? Điều 241 Luật tố tụng hành chính; Điều 242 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 82/2023/HC-PT Ngày: 22 - 02 - 2023 V/v Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Ông Hoàng Thanh Dũng
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Trí Tuấn
Bà Hồ Thị Thanh Thúy
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm (trực tuyến) công khai vụ án hành chính thụ lý số: 708/2022/TLPT-HC ngày 02 tháng 11 năm 2022 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 68/2022/HC-ST ngày 29 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 18/2023/QĐ-PT ngày 07 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1976. (có mặt)
Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật của Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An: Ông Huỳnh Văn Quang Hùng - Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Ông Đào Hữu T - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:
1/. Ông Phạm Văn Nh, sinh năm 1968. (vắng mặt)
2/. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1966. (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nh, bà H1: Ông Nguyễn Hữu Th, sinh năm 1971. (có mặt)
Địa chỉ: khu 1B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.
3/. Ông Nguyễn Hoài T, sinh năm 1984. (vắng mặt)
4/. Bà Nguyễn Thị Bích Ch, sinh năm 1979. (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người khởi kiện bà Nguyễn Thị Thanh H trình bày:
Vào năm 1976 cha mẹ bà H là ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị B được ông Châu Tá Ph cho sử dụng phần đất có tổng diện tích theo đo đạc thực tế 248.2m2 thuộc một phần của các thửa đất số 1915, 1909, 1907 và 1906 cùng tờ bản đồ số 3. Vị trí tại các khu A, C, D1, D2 theo Mảnh trích đo địa chính số 02TL-2019 do Công ty TNHH đo đạc nhà đất H lập và được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C duyệt ngày 07/6/2019. Phần đất này được cha mẹ bà H quản lý, sử dụng từ năm 1976 có cất nhà ở, nên năm 1992 cha mẹ bà H giao lại phần đất này cho bà H quản lý, sử dụng đến nay. Bà H sử dụng ổn định không phát sinh tranh chấp nhưng chưa làm thủ tục kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Gia đình bà Nguyễn Thị H1 có sử dụng thửa đất 1909, tờ bản đồ số 3, thửa đất này được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H1 theo Quyết định số 2755/QD-UBND ngày 10/10/2008 và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 863369. Thời gian gần đây khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà H phát hiện trong phần diện tích đất 124m2 mà cơ quan Nhà nước đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H1 có chồng lấn 24,4m2 đất do bà H đang trực tiếp quản lý, sử dụng. Phần diện tích đất này được thể hiện cụ thể trên Mảnh trích đo địa chính số 02TL-2019 do Công ty TNHH đo đạc nhà đất H lập và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C duyệt ngày 07/6/2019. Việc UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng phần đất diện tích 24,4m2 do bà H đang trực tiếp quản lý, sử dụng cho bà H1 đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà H.
Vì vậy, bà H khởi kiện yêu cầu: Hủy Quyết định số 2755/QD-UBND ngày 10/10/2008 của UBND huyện C về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị H1; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 863369 do UBND huyện C cấp ngày 10/10/2008 cho bà Nguyễn Thị H1.
Tại Văn bản số 4871/UBND-TD ngày 15 tháng 6 năm 2021 của người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An có nội dung như sau:
Ngày 10/10/2008, Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An ban hành Quyết định số 2755/QĐ-UBND về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 863369 cho bà Nguyễn Thị H1 đối với thửa đất số 1909, tờ bản đồ số 3, loại đất lúa, vị trí đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An là hồ sơ cấp lần đầu trên cơ sở Luật Đất đai 2003 (hồ sơ xét cấp lần đầu).
Việc người khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An hủy Quyết định số 2755/QĐ-UBND ngày 10/10/2008 của UBND huyện C về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 863369 ngày 10/10/2008 của UBND huyện C cấp cho bà Nguyễn Thị H1 đối với thửa đất số 1909, tờ bản đồ số 3, loại đất lúa, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An đề nghị Tòa án xét xử theo qui định.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 68/2022/HC-ST ngày 29 tháng 6 năm 2022, Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã quyết định:
Căn cứ Điều 49, 105 Luật Đất đai năm 2003.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh H.
Hủy Quyết định số 2755/QĐ-UBND ngày 10/10/2008 của UBND huyện C, tỉnh Long An về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị H1 đối với thửa đất số 1909, diện tích 124m2, tờ bản đồ số 3, đất trồng lúa nước, đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 863369 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An cấp cho bà Nguyễn Thị H1 vào ngày 10/10/2008 đối với thửa đất số 1909, tờ bản đồ 03, diện tích 124m2, đất tọa lạc xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 18/7/2022, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1, ông Phạm Văn Nh có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị H1, ông Phạm Văn Nh vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh H.
Bà Nguyễn Thị Thanh H đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bà H1, ông Nh; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về việc chấp hành pháp luật: Hội đồng xét xử phúc thẩm và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính.
- Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của bà Nguyễn Thị H1, ông Phạm Văn Nh; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị H1, ông Phạm Văn Nh làm trong hạn luật định, hợp lệ về hình thức nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung:
Bà Nguyễn Thị Thanh H cho rằng trong thửa đất 1909 cấp cho hộ bà Nguyễn Thị H1 có 01 phần diện tích 24,4m2 của gia đình bà H; bà H sử dụng ổn định từ trước đến nay nên khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 2755/QĐ-UBND của UBND huyện C về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 863369 đã cấp cho bà Nguyễn Thị H1.
Qua xem xét hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị H1 thấy rằng: Vào năm 2008 bà H1 kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 1909. Đến ngày 10/10/2008, bà H1 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 1909. Tuy nhiên, trong thửa đất 1909, tờ bản đồ số 03 thì bà H có sử dụng một phần đất diện tích là 24,4m2.
Theo Mảnh trích đo địa chính số 02TL-2019 được Công ty TNHH đo đạc nhà đất H đo vẽ ngày 05/6/2019 và được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Long An xét duyệt vào ngày 07/6/2019 đã xác định khu B trong Mảnh trích đo có diện tích là 24,4m2 thuộc một phần thửa 1909, tờ bản đồ số 03 hiện do bà B đang quản lý, sử dụng (bà B là mẹ của bà H). Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ do Tòa án nhân dân tỉnh Long An lập ngày 11/11/2021 xác định 01 phần thửa đất số 1909, tờ bản đồ số 03 bà H đang quản lý, sử dụng; trên phần diện tích đất này bà H có trồng 01 cây ổi, 01 cây mít, 01 phần mái tôn, vách tôn của căn nhà tạm của bà H; Ranh giới giữa phần đất bà H đang quản lý, sử dụng với phần đất còn lại của thửa đất 1909 là hàng rào kiên cố bằng tường gạch, lưới song sắt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Hữu Th là người đại diện theo ủy quyền của bà H1, ông Nh cũng thừa nhận việc sang nhượng đất chỉ thực hiện trên giấy tờ chứ không làm biên bản bàn giao đất trên thực địa.
Như vậy, có cơ sở xác định Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 1909, tờ bản đồ số 03 cho bà H1 đã bao gồm cả phần diện tích đất 24,4m2 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình bà H. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà H1 là có căn cứ.
Từ những nhận định như trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là có căn cứ, đúng quy định pháp luật; kháng cáo của bà H1, ông Nh không có cơ sở chấp nhận, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị H1, ông Phạm Văn Nh phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241, Điều 242 Luật tố tụng hành chính;
Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị H1, ông Phạm Văn Nh.
Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 68/2022/HC-ST ngày 29 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh H.
Hủy Quyết định số 2755/QĐ-UBND ngày 10/10/2008 của UBND huyện C, tỉnh Long An về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị H1 đối với thửa đất số 1909, diện tích 124m2, tờ bản đồ số 3, đất trồng lúa nước, đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 863369 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An cấp cho bà Nguyễn Thị H1 vào ngày 10/10/2008 đối với thửa đất số 1909, tờ bản đồ 03, diện tích 124m2, đất tọa lạc xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Án phí hành chính phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Hoa, ông Phạm Văn Nh mỗi người phải chịu 300.000 đồng; được khấu trừ mỗi người 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000479 ngày 18/7/2022 và 0001449 ngày 19/10/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An vào phần án phí phải chịu; đương sự đã thực hiện xong.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
CÁC THẨM PHÁN
| Hồ Thị Thanh Thúy Phạm Trí Tuấn | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thanh Dũng |