vanban.org

Bản án 82/2023/DSST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị Sa Th.

Buộc bà Hà Mộng L trả tiền hụi sống mà bà Thạch Thị Sa Th đã đóng tổng cộng với số tiền bằng 6.180.000 đồng (Sáu triệu một trăm tám mươi nghìn đồng) loại hụi 5.000.000 đồng, dây số 01, mở vào ngày 29/8/2019 DL một năm khui 03 lần theo vụ lúa. Bà Thạch Thị Sa Th không yêu cầu tính lãi. Kể từ ngày có … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Góp hụi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị Sa Th.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN TIỂU CẦN
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2023/DSST
Ngày: 18-4-2023
“V/v Tranh chấp hợp đồng
dân sự về góp hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Ngoan

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung

2. Bà Trang Thị Cẩm Nhuần

- Thư ký phiên tòa: Bà Sơn Thị Hoa Lan- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.

Ngày 18 tháng 4 năm 2023, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 2831/2021/TLST–DS, ngày 26 tháng 02 năm 2021; về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2023/QĐXXST-DS, ngày 20 -3- 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 87/2023/QĐST- DS ngày 31 tháng 3 năm 2023 giữa:

Nguyên đơn: Bà Thạch Thị Sa Th, sinh năm 1965 (Có đơn đề nghỉ giải quyết vắng mặt);

Địa chỉ: ấp Ô Tr, xã Hiếu T, huyện Tiểu Cẩn, tỉnh Trà Vinh.

Bị đơn: Bà Hà Mộng L, sinh năm 1974; (Vắng mặt).

Địa chỉ: ấp Ô Tr, xã Hiếu T, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.

Người phiên dịch: Ông Kim Trường Mu N - Công tác tại BND ấp Cây Hẹ, xã Phú Cần, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 22 -01 -2021, đơn đề nghị xét xử vắng mặt và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Thạch Thị Sa Th trình bày:

Bà Thạch Thị Sa Th có tham gia góp hụi do bà Hà Mộng L làm chủ hụi, cụ thể vào ngày 29/8/2019 DL dây số 01, loại hụi 5.000.000 đồng, hụi vụ một năm khui 03 lần theo vụ lúa. Sau khi úp hụi giữa bà Sa Th và bà L có đối chiếu phần hụi sống mà bà Th đã đóng cho bà L tổng cộng với số tiền bằng 6.180.000 đồng, lãi hụi bằng 8.820.000 đồng nhưng bà L không đồng ý trả cho bà Sa Th số tiền hụi sống mà bà Sa Th đã đóng.

Dây hụi trên bà Sa Th yêu cầu Tòa án giải quyết, cụ thể dây hụi được thỏa thuận như sau:

Vào ngày 29/8/2019 DL dây số 01, loại hụi 5.000.000 đồng, chỉ thỏa thuận bằng lời nói không có làm văn bản, bà L có giao danh sách hụi viên cho bà Th và dây hụi có 16 phần, huê hồng đầu thảo hưởng 2.500.000 đồng/lần hốt, hụi vụ một năm khui 03 lần theo vụ lúa, bà Sa Th tham gia 01 phần và đóng được 03 lần hụi sống với số tiền bằng 6.180.000 đồng, đến lần khui thứ 04 bà L úp hụi. Ở dây hụi số 01 này bà L nợ tiền hụi bà Sa Th bằng 6.180.000 đồng.

Bà Sa Th yêu cầu bà Hà Mộng L và ông Thạch Ma N trả tiền hụi sống mà bà Sa Th đã đóng tổng cộng bằng 6.180.000 đồng, (Loại hụi 5.000.000 đồng, mở vào ngày 29/8/2019 DL, dây hụi số 01) bà Sa Th không yêu cầu bà L và ông Ma N trả tiền lãi hụi bằng 8.820.000 đồng và bà không yêu cầu tính lãi.

Trong quá trình giải quyết bà Sa Th chỉ yêu cầu bà Hà Mộng L có trách nhiệm trả cho bà số tiền hụi sống mà bà Sa Th đã đóng bằng 6.180.000 đồng nên Tòa án đã xác định lại tư cách bị đơn là bà Hà Mộng L.

Tại bản tự khai ngày 19-5-2021, bị đơn bà Hà Mộng L trình bày:

Tôi có tổ chức khui dây hụi mà bà Sa Th tham gia cụ thể: Vào ngày 29/8/2019 DL dây số 01, loại hụi 5.000.000 đồng; chỉ thỏa thuận bằng lời nói không có làm văn bản, tôi có giao danh sách hụi viên cho bà Sa Th, dây hụi có 16 phần, huê hồng đầu thảo hưởng 2.500.000 đồng/lần hốt, hụi vụ một năm khui 03 lần theo vụ lúa, bà Sa Th tham gia 01 phần và đóng được 03 lần hụi sống bằng 6.180.000 đồng, đến lần khui thứ 04 tôi úp hụi, ở dây hụi số 01 tôi còn nợ bà Sa Th hụi sống mà bà Sa Th đã đóng bằng 6.180.000 đồng nhưng tôi không đồng ý trả số tiền này cho bà Sa Th vì tôi chưa có khả năng trả, còn tiền lãi hụi bằng 8.820.000 đồng bà Sa Th không yêu cầu trả và không yêu cầu tính lãi, tôi thống nhất theo ý kiến của bà Sa Th.

Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có cung cấp tài liệu chứng có gồm: 01 danh sách hụi viên loại hụi 5.000.000 đồng mở vào ngày 29/8/2019 DL; 01 chứng minh nhân dân mang tên Thạch Thị Sa Th và 01 Sổ hộ khẩu gia đình (photo);

Những vấn đề các bên đương sự thống nhất:

Bà Hà Mộng L thừa nhận còn nợ tiền hụi sống của bà Sa Th đã đóng tổng cộng với số tiền bằng 6.180.000 đồng (Loại hụi 5.000.000 đồng, mở vào ngày 29/8/2019 DL dây số 01 DL loại hụi vụ một năm khui 03 lần theo vụ lúa ) bà Sa Th không yêu cầu trả lãi hụi và tính lãi.

Những vấn đề các bên đương sự không thống nhất:

Bà Hà Mộng L không đồng ý trả tiền hụi sống theo yêu cầu của bà Thạch Thị Sa Th.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi”. Bị đơn cư trú tại ấp Ô Tr, xã Hiếu T, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh theo quy định tại Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần.

Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự vẫn xét xử vụ án vắng mặt bà Thạch Thị Sa Th.

Bị đơn bà Hà Mộng L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ niêm yết lần thứ hai đến tham gia phiên tòa xét xử vụ án nhưng bà L vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà L theo qui định của pháp luật.

Về nội dung: Trong quá trình giải quyết vụ án bà Hà Mộng L có lời khai thống nhất xác định bà Sa Th có tham gia góp hụi do bà L làm chủ đầu thảo cụ thể: Loại hụi 5.000.000 đồng, mở vào ngày 29/8/2019 DL, dây số 01 loại hụi vụ một năm khui 03 lần theo vụ lúa; tổng cộng bà Sa Th tham gia 01 phần và bà Sa Th đã đóng hụi sống với số tiền bằng 6.180.000 đồng, đây là những tình tiết các đương sự không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn bà Sa Th yêu cầu bà L trả tiền hụi sống mà bà đã đóng ở dây hụi trên tổng cộng bằng 6.180.000 đồng, bà Sa Th không yêu cầu bà L trả lãi hụi và không yêu cầu tính lãi. Bà L không đồng ý trả tiền hụi sống bà Sa Th đóng tổng cộng bằng 6.180.000 đồng với lý do hiện nay bà chưa có khả năng để trả.

Hợp đồng góp hụi giữa bà Sa Th với bà L là có thật và sự việc được chứng minh qua lời khai thừa nhận của bà L là chủ hụi đối với bà Sa Th, tại hồ sơ vụ án bà L cũng thống nhất số tiền hụi mà bà Sa Th khởi kiện tổng cộng bằng 6.180.000 đồng bà L không đồng ý trả, nhưng bà đưa lý do chưa có khả năng để trả và bà còn cho rằng sau khi lấy được tiền của các hụi viên khác thì bà L mới trả cho bà Sa Th hiện nay bà không còn tài sản để trả. Xét thấy, trong thời gian trên bà L làm chủ hụi của rất nhiều dây hụi, loại hụi khác nhau, sau khi úp hụi đáng lẽ bà L phải có nghĩa vụ thanh toán tiền hụi sống cho các hụi viên đã tham gia góp hụi, nhưng bà không thực hiện nghĩa vụ của chủ hụi đối với hụi viên khi có yêu cầu, mà cho rằng khi nào lấy được tiền rồi mới thanh toán lại cho bà Sa Th nên bà L đã vi phạm nghĩa vụ của chủ hụi đối với hụi viên đang có phần hụi sống. Việc vi phạm này ít nhiều vì cũng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của bà Sa Th, nên lời trình bày của bà L về phương thức trả tiền hụi sống cho bà Sa Th là không có căn cứ chấp nhận nên Hội đồng xét xử buộc bà L có trách nhiệm trả tiền hụi sống mà bà Sa Th đã đóng là có căn cứ. Do bà Sa Th không yêu cầu trả lãi hụi, tính lãi và không yêu cầu ông Thạch Ma N (chồng bà L) cùng có trách nhiệm trả tiền hụi nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Thạch Thị Sa Th không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Buộc bị đơn bà Hà Mộng L phải chịu theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 91, 92, 147 và Điều 227, 228, 273, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 471 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi biêu phường;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị Sa Th.

2. Buộc bà Hà Mộng L trả tiền hụi sống mà bà Thạch Thị Sa Th đã đóng tổng cộng với số tiền bằng 6.180.000 đồng (Sáu triệu một trăm tám mươi nghìn đồng) loại hụi 5.000.000 đồng, dây số 01, mở vào ngày 29/8/2019 DL một năm khui 03 lần theo vụ lúa. Bà Thạch Thị Sa Th không yêu cầu tính lãi.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

3. Về án phí: Buộc bị đơn bà Hà Mộng L phải chịu 309.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Thạch Thị Sa Th không phải chịu án phí dận sự sơ thẩm.

Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã mà Thạch Thị Sa Th đã nộp 375.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0001902 ngày 24-02-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh cho bà Thạch Thị Sa Th và nhận tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiểu Cần.

4.Về quyền kháng cáo:

Các Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để xin Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ