vanban.org

Bản án 82/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 3, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 24/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lã Tấn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lã Tấn K 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 12/8/2022 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lã Tấn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2022/HS-ST
Ngày: 24-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Sơn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Kiên Hiển

2. Bà Nguyễn Thị Xuyến

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghiệp – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 84/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2022 theo hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3 và điểm cầu Thành phần đặt tại Trại tạm giam Chí Hòa (T30) – Công an Thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

LÃ TẤN K, sinh năm 1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Số 195/19/7 Đường S, Phường 13, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 310 Đường Q, Phường 28, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lã Văn V và bà Đỗ Kim L; chưa có vợ, con.

Tiền án: Ngày 20/02/2014, bị Toà án nhân dân quận Gò Vấp xử phạt 3 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 21/01/2016 (bị cáo chưa chấp hành xong phần án phí )

Tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/8/2022

(Bị cáo có mặt)

- Bị hại: Ông Huỳnh Bé Q, sinh năm 1985

Địa chỉ: 195/25/5 Đường S, Phường 13, Quận 3, TP.HCM

(Vắng mặt)

- Người có quyền L, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Trương Thị T, sinh năm 1996

Địa chỉ liên lạc: 195/25/5 Đường S, Phường 13, Quận 3, TP.HCM

(Vắng mặt)

2. Ông Trương Quang T, sinh năm 1953

Địa chỉ: Trung Hồ, Ea Hồ, Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.

(Vắng mặt)

3. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1969

Địa chỉ: 359/5B Đường S, Phường 12, Quận 3, TP.HCM

(Vắng mặt)

4. Ông Lã Tấn Đ, sinh năm 1988

Địa chỉ: 195/19/7 Đường S, Phường 13, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh

(Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 06/7/2017, bị cáo Lã Tấn K đi bộ ngang qua nhà ông Huỳnh Bé Q tại số 195/25/5 Đường S, Phường 13, Quận 3 phát hiện 01 xe máy hiệu Wave RSX, biển số 47E1- 07144 dựng trước cửa nhà, không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm xe bán lấy tiền tiêu xài. Lúc này, bị cáo K đến đẩy bộ chiếc xe ra khu vực ngã tư Đường S - Trần Quang Diệu và gặp ông Nguyễn Văn L là người sửa xe. Bị cáo K nói ông L mở giúp công tắc, rút dây điện của xe ra nhưng không được nên ông L lắp ráp lại xe. Sau đó, bị cáo K đẩy bộ chiếc xe về nhà K tại số 930 Trường Sa, Phường 13, Quận 3 cất giữ.

Khoảng 22 giờ cùng ngày, anh Lã Tấn Đ là anh ruột của bị cáo K đi làm về nhìn thấy xe máy không biết của ai, anh Đ nghi ngờ K đã lấy trộm xe của người khác nên đi xung quanh khu vực gần nhà để hỏi thăm. Khi đến chợ Nguyễn Văn Trỗi, anh Đ gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch) nói có biết sự việc mất xe nên anh Đ nhờ người này dẫn ông Q ra đường Trường Sa gần cầu Trần Quang Diệu gặp anh Đ lấy xe máy. Khoảng 21 giờ ngày 07/7/2017, ông Q đến gặp anh Đ lấy xe máy về.

Sau khi phát hiện mất xe, ông Q đến Công an Phường 13, Quận 3 trình báo sự việc. Qua điều tra truy xét, xác định bị cáo Lã Tấn K là người đã trộm xe máy của ông Q nên ngày 05/7/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 3 T hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Lã Tấn K đến ngày 12/8/2022 thì bắt được.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 3, bị cáo Lã Tấn K thành khẩn khai nhận toàn bộ sự việc phạm tội như đã nêu trên.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 106/KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 21/8/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 3 kết luận: 01 xe máy hiệu Wave RSX, biển số 47E1- 07144, vào thời điểm tháng 7/2017 có giá là 5.000.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số 870/KLGĐ ngày 06/5/2022 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố Hồ Chí Minh kết luận đối với Lã Tấn K:

Về y học: Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản vào ngày 06/7/2017 đối tượng có sử dụng gây hại nhiều loại ma tuý (F19.1-ICD10). Hiện đối tượng tâm thần bình thường.

Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản vào ngày 06/7/2017 cho đến nay đối tượng đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Tại bản Cáo trạng số 74/CT-VKS-HS ngày 26 tháng 10 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đã truy tố bị cáo Lã Tấn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

Bị cáo Lã Tấn K có lời khai phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Bị cáo K cho biết tại thời điểm chiếm đoạt xe bị cáo hoàn toàn tỉnh táo, vì muốn có tiền tiêu xài nên mời chiếm đoạt xe gắn máy để bán lấy tiền.

Lời nói sau cùng: Bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để có cơ hội làm lại cuộc đời.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Lã Tấn K từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an Quận 3, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, kiêm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng cũng như người T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa thống nhất phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 19 giờ ngày 06/7/2017 tại số nhà 195/25/5 Đường S, Phường 13, Quận 3 bị cáo Lã Tấn K phát hiện ông Huỳnh Bé Q dựng xe biển số 47E1- 07144 trước cửa nhà không có người trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Bị cáo đã lén lút đẩy chiếc xe biển số 47E1- 07144 mang về nhà bị cáo K tại số 930 Trường Sa, Phường 13, Quận 3 cất giấu để mang đi tiêu thụ.

Với hành vi như đã nêu trên, bị cáo Lã Tấn K đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo K có năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện là lỗi cố ý.

Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản chiếm đoạt cũng được thu hồi và giao trả nên thiệt hại xảy ra không lớn. Vì vậy khi lượng hình cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b-s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo K có tiền án và chưa được xóa án tích lại tái phạm nên áp dụng tình tiết tăng nặng qui định tại theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe máy hiệu Wave RSX, biển số 47E1- 07144 mà bị cao chiếm đoạt. Xe do ông Trương Quang T ngụ tại xã Ea Hô, huyện Krông Năng, tỉnh Đăk Lak đứng tên chủ sở hữu. Ông T cho con gái là chị Trương Thị Thuý mượn xe sử dụng. Ngày 06/7/2017, chị T cho ông Q mượn xe sử dụng thì bị mất trộm. Ngày 13/7/2017, Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chị T là có căn cứ.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

- Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b-s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lã Tấn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lã Tấn K 10 (mười) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 12/8/2022

Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lã Tấn K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Căn cứ Điều 331, Điều 333, Điều 336 và Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại; người có quyền L và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống Đ hợp lệ hoặc niêm yết bản án. Người có quyền L và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ