vanban.org

Bản án 82/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 15/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 10 (mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 19/9/2022).

Xử phạt bị cáo Trần Văn S 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 19/9/2022). Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Sơn - TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 10 (mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 19/9/2022).
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2022/HS-ST
Ngày 15-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Giáp Thị Loan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Thái

Ông Nguyễn Văn Chấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Bình - Kiểm sát viên;

Ngày 15 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, Tòa án nhân dân huyện Lục Nam xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 88/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2022 đối với các bị cáo:

1- Họ và tên: Nguyễn Văn L, sinh năm 1991. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam.

- Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố V, thị trấn Đ, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

- Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.

- Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 06/12.

- Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không.

- Bố đẻ: Nguyễn Văn H, sinh năm 1963.

- Mẹ đẻ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1965.

- Gia đình có 03 anh em, bản thân là thứ ba trong gia đình.

- Bị can chưa có vợ, con.

- Nhân thân:

+ Bản án số 24/2009/HSST ngày 15/4/2009, Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Bản án số 34/2010/HSST ngày 22/6/2010, Tòa án nhân dân huyện Lục Nam xử phạt 15 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”; Tổng hợp với bản án số 24/2009/HSST ngày 15/4/2009 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, buộc L phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 33 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/10/2012 (trị giá tài sản dưới 02 triệu đồng).

- Tiền án:

+ Bản án số 93/2013/HSST ngày 19/9/2013, Tòa án nhân dân huyện Lục Nam xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/3/2017.

+ Bản án số 38/2018/HSST ngày 22/8/2018, Tòa án nhân dân huyện Lục Nam xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/3/2019.

+ Bản án số 14/2020/HSPT ngày 10/02/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/5/2022.

- Tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/9/2022 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Bắc Giang (có mặt).

2- Họ và tên: Trần Văn S, sinh năm 1980. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam.

- Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố V, thị trấn Đ, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

- Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.

- Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 9/12.

- Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không.

- Bố đẻ: Trần Văn Th, sinh năm 1952.

- Mẹ đẻ: Nguyễn Thị Th, sinh năm 1955.

- Gia đình có 03 anh em, bị can là thứ 02 trong gia đình.

- Vợ: Nguyễn Thị C, sinh năm 1984.

- Bị can có 01 con sinh năm 2004.

- Nhân thân:

+ Ngày 18/10/2010, Chủ tịch UBND huyện Lục Nam ra Quyết định áp dụng biện pháp xử phạt hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh (cai nghiện) tại Trung tâm giáo dục lao động xã hội tỉnh Bắc Giang.

+ Bản án số 112/2013/HSST ngày 17/12/2013, Tòa án nhân dân huyện Lục Nam xử phạt 24 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong án phí ngày 17/4/2014. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/9/2015.

+ Ngày 07/6/2019, Công an huyện Lục Nam xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 23/9/2019.

+ Ngày 30/8/2019, Công an huyện Lục Nam xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

- Tiền án: Bản án số 07/2020/HSST ngày 20/01/2021, Tòa án nhân dân huyện Lục Nam xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/12/2021.

- Tiền sự: Không.

- Bị cáo đầu thú, tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/9/2022 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang.

* Bị hại: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1983 (Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị X, sinh năm 1960.

Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn S và Nguyễn Văn L có mối quan hệ quen biết nhau từ trước và đều là các đối tượng có tiền án về các tội chiếm đoạt tài sản. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 17/9/2022, L đi bộ từ nhà ra khu vực đầu cầu Lục Nam thuộc Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện Lục Nam chơi thì gặp một người bạn quen biết qua các mối quan hệ xã hội (L không biết nhân thân, lai lịch người này). L mượn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Nouvo LX màu trắng (không nhớ biển số) của người này để đi chơi và được người này đồng ý. Sau đó, L điều khiển xe mô tô đi được một đoạn thì gặp Trần Văn S đang đi bộ ở khu vực này, L rủ Sơn đi chơi cùng thì Sơn đồng ý. Sơn điều khiển xe mô tô chở L từ thị trấn Đồi Ngô, huyện Lục Nam đi về hướng xã Huyền Sơn, huyện Lục Nam. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, Sơn và L đi qua cổng nhà anh Vũ Văn L, sinh năm 1983 ở Thôn V, xã H, huyện Lục Nam thì phát hiện thấy nhà anh L đóng cổng, trong nhà không có người trông coi, Sơn và L nảy sinh ý định đột nhập vào nhà anh L trộm cắp tài sản bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Sơn đỗ xe mô tô ở rìa đường bên ngoài tường vành lao phía trước cổng nhà anh L, L ngồi trên xe mô tô cảnh giới để Sơn vào nhà anh L tìm tài sản để trộm cắp. Sau đó, Sơn đi đến cổng nhà anh L dùng tay mở cổng đi vào sân quan sát thấy gian nhà kho của gia đình anh L không khóa, Sơn đi đến mở cửa vào nhà kho tìm tài sản nhưng không phát hiện thấy tài sản gì nên quay ra cổng gọi L vào cùng tìm kiếm tài sản để trộm cắp. L đi vào trong nhà kho gia đình anh L thì phát hiện thấy có 01 bao thóc (loại thóc Khang Dân) được đựng trong bao tải dứa màu vàng dựng ở góc tường cạnh cửa ra vào. L dùng hai tay trộm cắp bê bao thóc ra đặt lên yên xe mô tô, còn Sơn điều khiển xe mô tô chở L ngồi sau bê bao thóc mang đi tiêu thụ. Sau đó, Sơn và L mang bao thóc trộm cắp được đến cửa hàng xay xát gạo của bà Lê Thị X, sinh năm 1960 trú tại Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện Lục Nam bán cho bà Xuân được 200.000 đồng. Quá trình mua bán, bà Xuân cân bao thóc xác định trọng lượng của bao thóc là 31 ki lô gam. Số tiền bán tài sản do trộm cắp mà có, L và Sơn chia nhau mỗi người 100.000 đồng chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 19/9/2022, anh L phát hiện gia đình bị mất 01 báo thóc nên đã làm đơn trình báo Công an xã Huyền Sơn, huyện Lục Nam. Cùng ngày này, L và Sơn đến Công an huyện Lục Nam đầu thú và khai nhận hành vi trộm cắp bao thóc nhà anh L như đã nêu trên. Bà Lê Thị X giao nộp cho Công an thị trấn Đồi Ngô: 01 bao tải dứa màu vàng, trên bao ghi “Tập đoàn Hy Vọng Phương Đông”.

Kết quả xác định hiện trường: Hiện trường nơi xảy ra vụ án xác định tại gian nhà kho (ký hiệu 1) của gia đình anh Vũ Văn L ở Thôn V, xã H, huyện Lục Nam. Nhà kho được xây dựng theo kiểu nhà cấp 4, bằng gạch kiên cố, được lợp mái và thiết kế thành hai gian có tường ngăn riêng biệt ký hiệu (1), (2) và đều có cửa quay hướng Nam.

Vị trí để bao thóc bị trộm cắp được xác định tại vị trí góc tường phía Tây và phía Bắc bên trong gian nhà kho ký hiệu (1).

Bản Kết luận định giá tài sản số 82/KL-HĐĐG ngày 19/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lục Nam kết luận: 31 kilôgam thóc, loại thóc Khang Dân, được thu hoạch vào tháng 6/2022 có tổng giá trị tài sản là 217.000 đồng.

Quá trình điều tra, Trần Văn S và Nguyễn Văn L khai báo thành khẩn hành vi phạm tội như đã nêu trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Nam đã tiến hành thực nghiệm điều tra cho Sơn và L xác định địa điểm, vị trí đã thực hiện hành vi trộm cắp; thực nghiệm tư thế, động tác bê bao thóc ra xe mô tô. Kết quả: Sơn và L xác định đúng địa điểm, vị trí đã thực hiện hành vi trộm cắp bao thóc tại gia đình anh L và thực hiện thuần thục động tác bê bao thóc ra xe mang đi tiêu thụ; phù hợp với lời khai các bị cáo cùng các tài liệu chứng cứ khác.

Đối với bà Lê Thị X sau khi mua bao thóc của Sơn và L đã xay sát thành gạo và bán cho khách nên Cơ quan điều tra không thu hồi được. Bà Xuân không biết bao thóc mua của các bị cáo là tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với chiếc xe mô tô Sơn và L dùng để đi trộm cắp tài sản, quá trình điều tra L khai mượn của người bạn quen biết ngoài xã hội, không rõ nhân thân, lai lịch người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ để xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Anh L không yêu cầu các bị can phải bồi thường gì về dân sự.

Vật chứng chuyển xử lý cùng vụ án: 01 bao tải dứa màu vàng, trên bao có ghi “Tập đoàn Hy Vọng Phương Đông”.

Tại bản Cáo trạng số 85/CT-VKS ngày 28 tháng 11 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam truy tố bị cáo Trần Văn S và Nguyễn Văn L về tội “Trộm cắp tài sản”theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên phát biểu luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn S từ 07 tháng đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bao tải dứa màu vàng, trên bao có ghi “Tập đoàn Hy Vọng Phương Đông”.

Miễn án phí HSST cho bị cáo Trần Văn S do thuộc hộ nghèo.

Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Các bị cáo Trần Văn S, Nguyễn Văn L đều trình bày: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng trình bày là đúng; các bị cáo nhất trí với bản luận tội và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa, không có ý kiến tranh luận gì. Các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xử phạt các bị cáo mức án thấp nhất theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranhtụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình tiến hành tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ai tố cáo, khiếu nại gì. Hội đồng xét xử kết luận hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều đúng quy định và hợp pháp.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy quá trình điều tra họ đã có lời khai đầy đủ lời khai tại hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử; Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của người vắng mặt trong quá trình hỏi tại phiên tòa.

Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn L, Trần Văn S đều thành khẩn khai báo, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 17/9/2022, Trần Văn S và Nguyễn Văn L (đều là các đối tượng có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích) có hành vi trộm cắp 01 bao thóc, loại thóc Khang Dân, trọng lượng 31 kg của gia đình anh Vũ Văn L, sinh năm 1983 trú tại Thôn V, xã H, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Tổng trị giá tài sản L và Sơn trộm cắp là 217.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm mười bẩy nghìn đồng).

Thủ đoạn của các bị cáo là lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của người dân trong việc quản lý, bảo vệ tài sản để thực hiện hành vi lén lút, chiếm đoạt tài sản rồi nhanh chóng tẩu thoát, đem tài sản chiếm đoạt được đi tiêu thụ, lấy tiền chi tiêu cá nhân. Hành vi trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, làm mất an ninh trật tự tại địa phương; các bị cáo đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Mặc dù các bị cáo cùng cố ý thực hiện một tội phạm, nhưng các bị cáo không có sự bàn bạc, tính toán tỉ mỉ, câu kết chặt chẽ nên không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức, hành vi rủ nhau đi trộm cắp tài sản của các bị cáo chỉ là đồng phạm có tính chất giản đơn. Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam truy tố các bị cáo Nguyễn Văn L, Trần Văn S về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thấy:

Bị cáo Nguyễn Văn L giữ vai trò chính, bị cáo là người trực tiếp đi cùng Sơn đến nhà anh L, L cũng là người phát hiện ra bao thóc và trực tiếp bê bao thóc ra xe mô tô để cùng Sơn đi tiêu thụ. Như vậy, L là người thực hành trực tiếp chiếm đoạt tài sản. Bị cáo Trần Văn S tham gia rất tích cực, có vai trò trực tiếp điều khiển xe mô tô chở L cùng đi tìm tài sản trộm cắp và cùng đem tài sản chiếm đoạt được đi tiêu thụ bán được 200.000 đồng; hai bị cáo chia nhau mỗi người 100.000 đồng, số tiền hưởng lợi bất chính là ngang nhau. Tuy nhiên, như đánh giá ở trên thì vai trò của L cao hơn so với Sơn.

Bị cáo Nguyễn Văn L có 03 tiền án, trong đó có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, 01 tiền án về tội “Cướp tài sản”. Về nhân thân: Bị cáo đã 02 lần bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo Trần Văn S có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”. Về nhân thân: Bị cáo 01 lần bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, 02 lần bị xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” và 01 lần bị áp dụng biện pháp xử phạt hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy các bị cáo đều có nhân thân xấu, mặc dù các bị cáo đều đã bị kết án nhiều lần về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng không biết ăn năn, hối cải, tiếp tục dấn thân vào con đường phạm tôi. Chứng tỏ các bị cáo đều là người khó giáo dục, coi thường kỷ cương pháp luật, cần phải có hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục là đúng với chính sách xử lý của pháp luật hình sự Nhà nước ta. Căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và giá trị tài sản các bị cáo chiếm đoạt, mức hình phạt đối với bị cáo L, bị cáo Sơn như đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam đề nghị là phù hợp với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng. Xét thấy các bị cáo đều không có nghề nghiệp ổn định, không có điều kiện kinh tế; bị cáo Sơn thuộc diện hộ nghèo nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Đối với bà Lê Thị X đã mua tài sản trộm cắp của Sơn và L; quá trình điều tra xác định bà Xuân không biết đó là tài sản do trộm cắp mà có, các bị cáo cũng không nói cho bà Xuân biết về nguồn gốc tài sản nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng thu giữ là 01 bao tải dứa màu vàng, trên bao có ghi “Tập đoàn Hy Vọng Phương Đông”, nay xác định không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Vũ Văn L không đề nghị giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Văn S do thuộc hộ nghèo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 10 (mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 19/9/2022).

2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Văn S 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 19/9/2022).

3. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bao tải dứa màu vàng, trên bao có ghi “Tập đoàn Hy Vọng Phương Đông”.

4. Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Văn S.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND huyện Lục Nam;

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- VKSND tỉnh Bắc Giang;

- TAND tỉnh Bắc Giang;

- CQCSĐT Công an huyện Lục Nam;

- Chi cục THADS huyện Lục Nam;

- Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;

- UBND thị trấn Đồi Ngô;

Giáp Thị Loan

- Bị cáo, bị hại, đương sự;

- Lưu hồ sơ, VP.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Thái Nguyễn Văn Chấn

Giáp Thị Loan

Cỡ chữ