- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa ông Nguyễn Ngọc T và bà Nguyễn Thị Hồng G"
- Tòa quyết gì? Xử ly hôn giữa ông Nguyễn Ngọc T và bà Nguyễn Thị Hồng G .
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 82/2022/HNGĐ - ST Ngày 27 - 12 – 2022 V/v Ly hôn giữa Ông T và bà G. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trọng Tảo.
Bà Trương Thị Dung.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Thắng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 27/12/2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Ý Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 197/2022/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2022 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 197/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc T – Sinh năm 1967.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng G – Sinh năm 1976.
Cùng địa chỉ: Thôn H, xã Y, huyện Y, tỉnh N.
(Ông T xin vắng mặt, bà G vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc T trình bày:
Ông và bà Nguyễn Thị Hồng G kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện Y, tỉnh N vào năm 1996. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông chung sống hạnh phúc và đã có 02 con gái thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, thường xuyên xảy ra tranh cãi. Ông và bà G sống ly thân từ năm 2017, không quan tâm đến nhau nữa. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, ông xin ly hôn bà G.
Về con chung: Ông và bà G có 02 con chung là Nguyễn Thị Thu U , sinh năm 1999 và Nguyễn Thị Minh C, sinh năm 2002. Các con chung đều đã trưởng thành và tự lập được nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con chung.
Về tài sản chung và các vấn đề khác có liên quan trong quan hệ hôn nhân: Ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng G đã được tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà G không đến Tòa án làm việc nên Tòa án không thu thập được lời khai của bà G và không tiến hành hòa giải được cho ông bà. Ông T có đơn đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải. Toà án đã thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho các đương sự và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
2. Tại biên bản làm việc ngày 10/11/2022 ông Nguyễn Văn A – là bố đẻ của bà G trình bày:
Về thời gian và điều kiện kết hôn của ông T, bà G, ông A trình bày phù hợp với lời khai của ông T. Sau khi kết hôn ông T, bà G chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn và ly thân với nhau 05 năm nay. Nguyên nhân mâu thuẫn do ông T, bà G bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Hiện tại ông T, bà G không còn quan tâm đến nhau nữa.
Về con chung: Ông T, bà G có 02 con chung đều đã trưởng thành và tự lập được là Nguyễn Thị Thu U , sinh năm 1999 và Nguyễn Thị Minh C, sinh năm 2002.
Về tài sản chung và các vấn đề khác có liên quan trong quan hệ hôn nhân giữa ông T, bà G ông không nắm được.
Các văn bản tố tụng quá trình giải quyết vụ án Tòa án gửi về cho bà G, bà G đều đã nhận được, biết được việc Ông T xin ly hôn nhưng bà G vì bận công việc nên không thể đến Tòa án để làm việc.
3. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật của thẩm phán, hội đồng xét xử, thư ký phiên toà trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án: Đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bô ̣ luâ ̣t tố tụng Dân sự. Bị đơn không chấp hành và thực hiện đúng các quyền của mình theo Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình: Xử ly hôn giữa ông Nguyễn Ngọc T và bà Nguyễn Thị Hồng G ; Về con chung: Ông T, bà G có 02 con chung đều đã trưởng thành và tự lập được, Ông T không yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung nên không đề cập giải quyết; Về tài sản chung và các vấn đề khác có liên quan trong quan hệ hôn nhân: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên tòa: Ông T có đơn xin vắng mặt, bà G vắng mặt không có lý do lần thứ hai. Chủ tọa phiên tòa công bố tóm tắt nội dung vụ án và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Hồng G có hộ khẩu thường trú tại xã Y, huyện Y, tỉnh N. Yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ông Nguyễn Ngọc T thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Ý Yên là phù hợp quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Việc vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Ngọc T đề nghị xin xét xử vắng mặt; bà Nguyễn Thị Hồng G mặc dù đã được Toà án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Ngọc T và bà Nguyễn Thị Hồng G kết hôn với nhau năm 1996 có đăng kí kết hôn tại UBND xã Y, huyện Y, tỉnh Ntrên cơ sở tự nguyê ̣n nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, ông bà chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, thường xuyên xảy ra cãi vã. Ông bà sống ly thân từ năm 2017 đến nay, không quan tâm đến nhau nữa. bà G mặc dù biết được việc Ông T xin ly hôn nhưng bà vẫn không đến Tòa án để giải quyết, điều này thể hiện bà G không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét tình trạng hôn nhân giữa Ông T và bà G ly thân đã lâu, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông T, xử cho ông và bà G ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Ông T, bà G có 02 con chung là Nguyễn Thị Thu U , sinh năm 1999 và Nguyễn Thị Minh C, sinh năm 2002. Cả hai con chung đều đã trưởng thành và tự lập được, Ông T không đề nghị giải quyết việc nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung và các vấn đề khác trong quan hệ hôn nhân: Ông T, bà G không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: Ông T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Điều 271, 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 147, Điều 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Xử ly hôn giữa ông Nguyễn Ngọc T và bà Nguyễn Thị Hồng G .
2. Về tài sản chung và các vấn đề khác trong quan hệ hôn nhân: Ông T, bà G không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Ngọc T phải nộp 300.000 đồng, đối trừ tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003765 ngày 18/10/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ý Yên, Ông T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Ông T, bà G được kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện Ý Yên; - Chi cục THADS huyện Ý Yên; - UBND xã Y; - Hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Minh Tâm |