vanban.org

Bản án 82/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Võ Thanh X đối với anh Võ Minh T. Xử cho chị Võ Thanh X được ly hôn đối với anh Võ Minh T.

Về con chung: Giao cháu Võ Xuân M, sinh ngày 16 tháng 09 năm 2005 và cháu Võ Trường T1, sinh ngày 24/02/2012 cho chị Võ Thanh X tiếp tục trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Hiện cháu M và cháu T1 đang sống cùng với chị X. Anh T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn, con chung giữa Võ Thanh Xuân- Võ Minh Tiền"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Võ Thanh X đối với anh Võ Minh T. Xử cho chị Võ Thanh X được ly hôn đối với anh Võ Minh T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 30–12– 2022
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thụy Lan Chi

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Sáu

2. Ông Trần Văn Nay

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Nhiều, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện V tỉnh B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh B tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Mỹ Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 178/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022 về “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Võ Thanh X, sinh năm 1985 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã V huyện V, tỉnh B.

- Bị đơn: Anh Võ Minh T, sinh năm 1985 (có đơn xin vắng mặt)

Đăng ký nhân khẩu thường trú: Ấp T, xã V huyện V, tỉnh B.

Hiện đang chấp hành án hình sự tại phân trại số 01, đội 21 của Trại Giam C (ấp M, xã K, huyện U , tỉnh C).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Võ Thanh X trình bày tại đơn khởi kiện đề ngày 26 tháng 8 năm 2022 và các lời khai tiếp theo tại Tòa án: Chị X và anh T chung sống với nhau vào năm 2005, đến năm 2010 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh H, huyện V, tỉnh B theo giấy chứng nhận kết hôn số 34/2005, cấp ngày 22/3/2010. Quá trình chung sống, chị X và anh T có hai người con chung là cháu Võ Xuân M, sinh ngày 16 tháng 09 năm 2005 và cháu Võ Trường T1, sinh ngày 24/02/2012. Hiện nay cháu M và cháu T1 đang sống cùng chị X. Về tài sản chung: Vợ chồng chị có tạo lập tài sản chung là căn nhà T chế được cất trên đất của cha mẹ chồng, ngoài ra không còn tài sản nào khác. Đối với tài sản chung, chị và anh T tự thỏa thuận. Nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nguyên nhân ly hôn, chị X xác định, chị và anh T bất đồng ý kiến, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn trong cuộc sống, chị và anh T đã ly thân từ năm 2017 đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc, chị X yêu cầu ly hôn với anh T. Về con chung, chị X yêu cầu nuôi cháu M và cháu T1 và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung tự thỏa thuận, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Võ Minh T trình bày tại bản tự khai ngày 13 tháng 12 năm 2022 tại Trại giam C huyện U, tỉnh C; anh T thống nhất lời trình bày của chị X về hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung. Nay anh T đồng ý ly hôn theo yêu cầu chị X. Về con chung, anh T đồng ý giao cháu M và cháu T1 cho chị X tiếp tục nuôi dạy, anh không phải cấp dưỡng do chị X không yêu cầu. Tài sản chung, anh với chị X tự thỏa thuận, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh B phát biểu việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Từ khi thụ lý cho đến phiên tòa xét xử sơ thẩm, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị X đối với anh T. Về con chung, đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu M và cháu T cho chị X tiếp tục nuôi dạy, giáo dục do cháu Mai và cháu Thịnh đang sống chung với chị X. Chị X không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét. Về tài sản chung và nợ chung không có và không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị X phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về thủ tục tố tụng: Ngày 21 tháng 09 năm 2022 chị Võ Thanh X nộp đơn khởi kiện đến Tòa án yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn đối với anh Võ Minh T. Anh T có địa chỉ đăng ký thường trú tại ấp Ấp T, xã V huyện V, tỉnh B. Do vậy, Tòa án nhân dân huyệ V, tỉnh B thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị X và anh T đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng tiến hành xét xử vắng mặt chị X và anh T theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về hôn nhân: Chị X và anh T tự nguyện chung sống vào năm 2005, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 34/2005, cấp ngày 22/3/2010, do Ủy ban nhân dân X và anh T là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

. Chị X xác định trong thời gian chung sống, giữa chị X và anh T thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, bất đồng ý kiến, khi còn chung sống, anh T thường hay dùng bạo lực với tôi. Xét thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị X yêu cầu ly hôn với anh T. Về phía anh T thừa nhận cuộc sống vợ chồng anh với chị X không hạnh phúc, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng anh đã ly thân từ năm 2017 đến nay. Nay anh T đồng ý ly hôn theo yêu cầu chị X nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Hiện anh T đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam C nên anh T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt anh.

Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân tồn tại bền vững thì phải dựa trên cơ sở tự nguyện, vợ chồng phải biết yêu thương, chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau cùng nhau xây dựng gia đình phát triển. Hôn nhân giữa chị X và anh T không còn hạnh phúc, quá trình chung sống thường xuyên phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn này đã trầm trọng, chị X và anh T đã ly thân từ năm 2017 đến nay. Chị X không còn tình cảm với anh T, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị X yêu cầu được ly hôn với anh T là có căn cứ, phù hợp với quy định Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị X đối với anh T.

. Về con chung: Chị X và anh T có hai người con chung là cháu Võ Xuân M sinh ngày 16 tháng 09 năm 2005 và cháu Võ Trường T1, sinh ngày 24/02/2012 hiện cháu M và cháu T1 đang sống chung với chị X. Quá trình làm việc tại Tòa án, chị X yêu cầu nuôi cháu M và cháu T1 và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử xét thấy, việc giao con cho ai nuôi là phải xem xét toàn diện, đầy đủ đảm bảo điều kiện cho con chưa thành niên. Để đảm bảo sự ổn định sinh hoạt, ăn ở, học hành, chăm sóc, nuôi dạy cháu M và cháu T1, do cháu M và cháu T1đang sống cùng chị X nên cần tiếp tục giao cháu M và cháu T1 cho chị X tiếp tục nuôi dạy. Điều này anh T cũng thống nhất.

. Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình làm việc tại Tòa án, chị X không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

. Về tài sản chung: Chị X và anh T xác định, vợ chồng anh chị chung sống có tạo lập tài sản chung là căn nhà T chế, ngoài ra không còn tài sản nào khác, phần tài sản chung chị X và anh T tự thỏa thuận, nợ chung không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

. Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình: Chị X phải chịu 300.000 đồng, chị X đã nộp tạm ứng án phí số T 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0001170 ngày 03 tháng 10 năm 2022 được chuyển thu án phí.

. Từ những phân tích trên cần chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Võ Thanh X đối với anh Võ Minh T. Xử cho chị Võ Thanh X được ly hôn đối với anh Võ Minh T.

2. Về con chung: Giao cháu Võ Xuân M, sinh ngày 16 tháng 09 năm 2005 và cháu Võ Trường T1, sinh ngày 24/02/2012 cho chị Võ Thanh X tiếp tục trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Hiện cháu M và cháu T1 đang sống cùng với chị X.

Anh T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Võ Thanh X không yêu cầu anh Võ Minh T cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.

4. Về tài sản chung: Chị X và anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

5. Nợ chung: Chị X và anh T thống nhất không có nợ chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.

6. Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình: Chị X phải chịu 300.000 đồng, chị X đã nộp tạm ứng án phí số T 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0001170 ngày 03 tháng 10 năm 2022 được chuyển thu án phí.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời gian 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ