- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng hụi"
- Tòa quyết gì? 39, các Điều 144, 147, 244, 271, 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 82/2022/DS-ST Ngày: 23/8/2022 “V/v Tranh chấp Hợp đồng góp hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Thanh Nhàn;
2. Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Bá Thi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ
Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham
gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới,
tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 166/2022/TLST-
DS ngày 17 tháng 5 năm 2022 về việc “Tranh chấp Hợp đồng góp hụi”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 385/2022/QĐXXST-DS ngày
12 tháng 7 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 361/2022/QĐST-DS ngày
03 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết Ph (S), sinh năm 1980; địa chỉ: ấp
TQ, xã TM, huyện CM, tỉnh An Giang
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1965; địa chỉ: ấp TQ, xã TM,
huyện CM, tỉnh An Giang; vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm
1966; địa chỉ: ấp TQ, xã TM, huyện CM, tỉnh An Giang; vắng mặt (do có ý kiến
đề nghị vắng mặt tại văn bản ghi nhận lời khai ngày 02/6/2022).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ
án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết Ph trình bày, bà Nguyễn Thị Tuyết Ph có tham gia chơi hụi do bà Nguyễn Thị Đ làm chủ, cụ thể: Dây hụi thứ I, II hụi 1.000.000 khởi khui ngày 25/11/2019 âm lịch, có 24 hụi viên, bà Ph tham gia mỗi dây là 01 chân hụi chầu được 17 lần hụi sống, hụi này chưa mảng, đến ngày 28/3/2021 thì bà Đ kêu vỡ hụi, nên bà chưa hốt hụi.
Tổng số tiền đã chầu hụi của 02 chân hụi với số tiền là 24.380.000đồng,
lời của 02 dây hụi là 9.620.000đồng.
Ngày 28/3/2021 bà Đ tuyên bố bể hụi. Như vậy, tổng số tiền hụi sống bà
Ph (S) đã chầu cho bà Đ tại 02 dây hụi chân hụi là 24.380.000đồng, lời của 02 dây hụi là 9.620.000đồng, như vậy tôi rút lại một phần yêu cầu khởi kiện với số tiền 8.620.000đồng. Quá trình giải quyết vụ án, bà Ph và bà Đ thống nhất số tiền nợ hụi là 24.260.000đồng; nên bà Ph yêu cầu Đ, ông T còn liên đới trả là 24.260.000đồng, tôi rút lại một phần yêu cầu khởi kiện như đơn khởi kiện, không yêu cầu tính lãi. Không đồng ý việc bà Đ yêu cầu thanh toán dần hàng tháng với số tiền là 500.000đồng/tháng.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Đ tại biên bản ghi nhận lời khai, lời khai tại biên
bản hòa giải, cũng như trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: bà có làm chủ hụi, trong đó bà Nguyễn Thị Tuyết Ph (S) là hụi viên tại các dây hụi, cụ thể: Dây hụi thứ I, II hụi 1.000.000 khởi khui ngày 25/11/2019 âm lịch, có 24 hụi viên, bà Ph tham gia mỗi dây là 01 chân hụi chầu được 17 lần (17 tháng) hụi sống, hụi này chưa mảng, đến ngày 28/3/2021 âm lịch thì tôi vỡ hụi, nên bà Ph chưa hốt hụi. Tổng số tiền đã chầu hụi của 02 dây hụi với số tiền là 24.260.000đồng.
Đối với các dây hụi, chồng tôi là ông Nguyễn Văn T có biết, có những lúc
thu giúp hụi cho tôi, tiền hụi cũng sử dụng chung vào sinh hoạt gia đình, cũng như phát triển kinh tế gia đình.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T vắng mặt trong
quá trình giải quyết vụ án, nên không ghi nhận được ý kiến tại các phiên hòa giải. Tuy nhiên, tại biên bản ghi nhận lời khai, do cán bộ Tòa án thực hiện ghi nhận ý kiến của ông T; ông T đã trình bày: ông và bà Nguyễn Thị Đ là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật từ năm 1983 đến nay, ông có nhận và biết được Tòa án mời làm việc do các nguyên đơn với tư cách là hụi viên khởi kiện vợ ông bà Đ là chủ hụi, do sau khi thực hiện khui hụi không thực hiện trả tiền hụi cho các hụi viên; ông có biết bà Đ là chủ hụi nhưng không biết việc ai là hụi viên, cũng như bà Đ khi thu tiền hụi, trả tiền hụi cho ai ông hoàn toàn không nắm được, cũng như không thực hiện thu hụi của các hụi viên thay bà Đ. Bà Đ khi thu tiền hụi, có tiền lời bao nhiêu ông không biết, bà Đ là vợ ông, là chủ hụi từ khoảng hơn 10 năm nay, việc bà Đ bể hụi ông biết, do bà Đ có báo cho ông, ông không đồng ý liên đới với bà Đ do ông không biết các hụi viên, không thu hụi, không biết bà Đ dùng tiền hụi vào mục đích gì; ngoài ra bà Đ còn bị rất nhiều người giựt hụi, ông phải T phụ bà Đ trả thay, ông biết việc đưa ông
tham gia tố tụng, nhưng đề nghị vắng mặt tại các phiên hòa giải, đối chất, lấy lời
khai và tại phiên tòa.
Tại phiên tòa:
- Bà Nguyễn Thị Tuyết Ph, trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp
trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và xác định không có tài liệu, chứng cứ khác
giao nộp cho Tòa án chứng minh cho ý kiến, yêu cầu của mình.
- Bà Nguyễn Thị Đ vắng mặt tại phiên tòa, nhưng lời trình bày phù hợp
với lời trình bày của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án.
- Ông Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa, nên không ghi nhận được ý
kiến.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án
trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử,
Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Bà Nguyễn
Thị Tuyết Ph, từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy
định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn bà Nguyễn
Thị Đ, từ khi thụ lý vụ án đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 72
Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, tại phiên tòa vắng mặt theo Điều 227 Bộ luật
Tố tụng dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T, từ
khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa vắng mặt theo Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Năm 2019, bà Nguyễn Thị Tuyết Ph có tham gia
hụi do bà Nguyễn Thị Đ làm chủ. Đến tháng 4/2021 thì bà Đ tuyên bố vỡ hụi, cụ
thể: Dây hụi ngày 1.000.000đồng/tháng mở ngày 25/01âl/2019altham gia 02
phần và đóng được 17 lần, số tiền 33.000.000đồng. Nay bà Ph yêu cầu bà Đ và
ông Nguyễn Văn T liên đới trả 33.000.000đồng, không yêu cầu tính lãi suất.
Tuy nhiên, trong quá giải quyết vụ án, bà Ph chỉ yêu cầu bà Đ và ông T liên đới
trả số tiền 24.260.000đồng, không tính lãi suất và không đồng ý việc bà Đ xin
trả dần hàng tháng cho đến khi xong số tiền còn nợ. Rút lại yêu cầu đối với số
tiền 8.740.000đồng nên cần đình chỉ theo Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự. Phía
bà Đ thừa nhận còn nợ bà Ph số tiền 24.260.000đồng nhưng do hoàn cảnh khó
khăn nên xin trả dần mỗi tháng 500.000đồng cho đến khi trả xong. Việc bà làm
chủ hụi ông T biết, có khi thu tiền hụi giúp bà, tiền bà chơi hụi có sử dụng vào
việc sinh hoạt gia đình. Riêng, ông T xác nhận giữa ông và bà Đ là vợ chồng, có
biết bà Đ là chủ hụi nhưng không rõ ai là hụi viên và không rõ việc thu hụi như
thế nào. Việc bà Đ vỡ hụi, ông T có biết, không đồng ý liên đới trả vì đây là nợ
riêng bà Đ.
Xét thấy, căn cứ bà Ph khởi kiện là 02 giấy hụi cùng ngày 25/11âl/2019.
Ngoài ra, bà Đ cũng thừa nhận còn nợ bà Ph 24.260.000đồng nên bà Ph khởi
kiện yêu cầu bà Đ trả 24.260.000đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 471 Bộ Luật dân sự và Điều 18, 23 Nghị định số 19 ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về hụi, họ, biêu, phường. Đối với việc bà Đ xin trả dần hàng tháng, do bà Ph không đồng ý nên không có cơ sở xem xét.
Đối với yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn T liên đới trả cho bà Ph số tiền
24.260.000đồng. Thấy rằng, trong thời gian bà Đ làm chủ hụi, bà Đ và ông T thừa nhận là vợ chồng, chung sống cùng nhau. Mặc khác, bà Đ thừa nhận, việc bà chơi hụi nhằm mục đích tạo thu nhập để phục vụ cuộc sống, sinh hoạt cho gia đình, ông T biết việc bà làm chủ hụi và đôi khi ông T có thay bà Đ nhận tiền hụi của hụi viên đến đóng hụi. Vì vậy, có căn cứ xác định rằng, đây là số nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân theo Điều 27, 37 Luật hôn nhân và gia đình nên có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của bà Ph, về việc buộc ông T có nghĩa vụ liên đới cùng bà Đ trả 24.260.000đồng. Do đó, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tuyết Ph đối với bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Văn T. Buộc bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Văn T trả cho bà Nguyễn Thị Tuyết Ph số tiền 24.260.000đồng. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện bà Nguyễn Thị Tuyết Ph đối với số tiền 8.740.000đồng.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các Điều 471 Bộ luật Dân
sự, Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Bà Nguyễn Thị Tuyết Ph khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Đ thanh toán
tiền hụi, bà Đ là người bị kiện đang cư trú tại địa bàn huyện Chợ Mới, giữa các bên công nhận có chơi hụi, nên Hội đồng xét xử thống nhất quan hệ tranh chấp để giải quyết vụ án là “tranh chấp về Hợp đồng góp hụi” theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.
Về nội dung:
Bà Nguyễn Thị Tuyết Ph, tham các dây hụi do bà Đ làm chủ hụi, tại
đơn khởi kiện, cũng như tại biên bản hòa giải, biên bản ghi nhận lời khai, bà Tuyết Ph và thống nhất về số tiền bà Đ còn nợ hụi là 24.260.000đồng, các đương sự đều thống nhất về các dây hụi, ngày khui hụi, số lần chầu hụi, tiền chầu hụi, tiền lời hụi; việc thừa nhận, thống nhất của các đương sự là sự kiện không cần chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét thấy, giữa bà Tuyết Phvà bà Đ có quan hệ chơi hụi, theo đó bà Đ là
chủ hụi, các đương sự đối chiếu, thống nhất số tiền đến nay bà Đ còn nợ tiền hụi của bà Tuyết Ph là 24.260.000đồng, bà Tuyết Ph không yêu cầu tính lãi, nên Hội đồng xét xử thống nhất, việc bà Ph yêu cầu khởi kiện là có căn cứ, lời trình bày của bà Ph phù hợp với lời trình bày của bà Đ, cũng như số tiền, số lần khởi khui
hụi các đương sự đều thống nhất; theo đơn yêu cầu khởi kiện của bà Tuyết Ph,
yêu cầu bà Đ và ông T phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán tiền nợ hụi, thì thấy:
việc ông T cho rằng, ông không có trách nhiệm liên đới với bà Đ, vì không biết
bà Đ dùng tiền vào việc gì, nhưng ông lại biết việc bà Đ là chủ hụi hơn 10 năm
nay, ông T cũng biết việc bà Đ vỡ hụi, cũng phụ bà Đ trong việc trả tiền hụi đối
với người chơi hụi (Biên bản lấy lời khai ngày 02/6/2022 đối với ông T), bà Đ
cũng khẳng định việc làm chủ hụi, tiền lời hụi bà dùng chung vào mục đích sinh
hoạt gia đình. Do đó, có cơ sở xác định ông T hoàn toàn biết việc bà Đ là chủ
hụi, biết việc bà Đ là người T nhận tiền từ các hụi viên, nên ông cho rằng không
có trách nhiệm liên đới là không có căn cứ, cả ông T và bà Đ đều thừa nhận là
vợ chồng có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, bà Đ và ông T cùng sống
chung nhà, bà Đ có dùng tiền chơi hụi vào mục đích chung trong sinh hoạt gia
đình theo như lời trình bày của bà Đ, nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của bà Tuyết Ph về việc buộc bà Đ, ông T phải có trách nhiệm liên đới theo quy
định tại Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình và thực hiện nghĩa vụ của hụi
viên, người tham gia hụi theo quy định tại Nghị định số 19/20219/NĐ-CP ngày
19/02/2019 của Chính phủ, do bà Ph không đồng ý việc bà Đ trả dần, nên bà Đ,
ông T phải có nghĩa vụ thanh toán.
Do đó, bà Đ, ông T phải có trách nhiệm liên đới thanh toán cho bà Tuyết
Ph số tiền hụi đến nay chưa thanh toán là: 24.260.000đồng.
Tại đơn khởi kiện, bà Ph yêu cầu bà Đ, ông T phải liên đới thanh
toán số tiền là 33.000.000đồng, tại phiên tòa bà Ph đề nghị rút một phần yêu cầu
khởi kiện với số tiền là 8.740.000đồng, việc rút yêu cầu của bà Ph là hoàn toàn
tự nguyện, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ
xét xử đối với số tiền 8.740.000đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Do yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tuyết Ph được chấp nhận, nên
bà Ph được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định pháp luật.
- Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu án phí tương ứng với số tiền 24.260.000
đồng, nhưng do bà Đ, ông Nguyễn Văn T phải liên đới Bình toán nợ, nên cả bà
Đ, ông T phải liên đới chịu án phí theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo đúng quy
định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 357, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, các Điều 144, 147, 244, 271, 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Căn cứ các Điều 18, 23 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2020 về
hụi, họ, điêu, phường của Chính phủ.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Tuyết Ph đối với bà Nguyễn Thị
Đ và ông Nguyễn Văn T;
- Buộc bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn T phải liên đới trả bà Nguyễn
Thị Tuyết Ph số 24.260.000đồng (hai mươi bốn triệu, hai trăm sáu mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối
với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Đình chỉ xét xử đối với số tiền 8.740.000đồng (tám triệu, bảy trăm bốn
mươi nghìn đồng).
3. Về án phí sơ thẩm:
- Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Tuyết Ph số tiền 825.000 đồng (tám trăm
hai mươi lăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004637 ngày 17 tháng 5 năm 2022 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới cấp.
- Bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn T phải liên đới chịu án phí dân sự
sơ thẩm với số tiền 1.213.000đồng (một triệu, hai trăm mười ba nghìn đồng), bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn T phải có nghĩa vụ nộp án phí tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
4. Về quyền kháng cáo:
- Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bà Nguyễn Thị
Tuyết Ph có mặt, có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
- Riêng bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo trong
thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự,
tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7a,
7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Chợ Mới (2); - TAND tỉnh An Giang (1); - Chi cục THADS huyện Chợ Mới (1); - Các đương sự (để thi hành) (3); - Lưu hồ sơ (1); - Lưu văn phòng (1). định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trung Kiên Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |