vanban.org

Bản án 82/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau Tuyên án 17/06/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, buộc ông T có nghĩa vụ trả cho bà T số tiền là 54.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, buộc ông T có nghĩa vụ trả cho bà T số tiền là 54.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2022/DS-ST
Ngày: 17-06-2022
V/v “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Trần Thị Hoài Yên.

- Ông Nguyễn Văn Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Sơn Ca là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Kil - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 377/2021/TLST-DS ngày 10 tháng 11 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2022/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà T (Có mặt).

Cư trú tại: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh T.

- Bị đơn: Ông T, sinh năm 1976 (vắng mặt).

Cùng cư trú tại: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 18 tháng 10 năm 2021 và tại phiên tòa nguyên đơn bà T trình bày:

Vào ngày 27/3/2005 (AL) bà có cho ông T mượn số tiền là 13.000.000đ, ông T có viết biên nhận. Đến ngày 29/01/2021(AL) ông T tiếp tục mượn bà số tiền là 54.000.000đ (Ông T có ký tên các biên nhận nợ). Các khoản nợ trên bà đã liên lạc với ông T nhiều lần yêu cầu trả nợ nhưng đến nay ông T vẫn không trả. Ngày 05 tháng 01năm 2022 bà T có đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, bà rút một phần khởi kiện đối với khoản tiền 13.000.000 đồng mà ông T mượn của bà theo biên nhận ngày 27/3/2005 (AL). Nay bà yêu cầu Tòa án buộc ông T trả nợ cho bà số tiền là 54.000.000 đồng.

-1-

- Bị đơn ông T đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng ông T vắng mặt không lý do và không cung cấp lời khai, chứng cứ về việc khởi kiện của bà T.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T buộc ông T có nghĩa vụ thanh toán cho bà T số tiền 54.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Bà T khởi kiện yêu cầu buộc ông T trả cho bà tiền vay. Bị đơn ông T có địa chỉ tại ấp Cái Nước, xã Phú Tân, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Do đó, đây là tranh chấp dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

Về sự vắng mặt của đương sự: Ông T là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông T.

Xét yêu cầu khởi kiện của bà T thấy rằng vào ngày 22/01/2021 (AL) bà có cho ông T mượn số tiền 54.000.000 đồng. Để chứng mình cho yêu cầu của mình là có căn cứ, bà T cung cấp cho Tòa án biên nhận tiền ngày 22/01/2021 và biên nhận nợ ngày 18/4/2022 có chữ ký của ông T, biên nhận có nội dung ông T có mượn tiền của bà T 54.000.000 đồng. Tuy nhiên, trong hồ sơ hai biên nhận nợ ngày 22/01/2021 và ngày 18/4/2022 đều có nội dung ông T có nợ bà T 54.000.000đ, theo bà T trình bày, do biên nhận nợ ngày 22/01/2021 ông T có ký tên trong biên nhận nhưng không có người làm chứng nên ngày 18/4/2022, bà tiếp tục yêu cầu ông T viết lại biên nhận nợ có bà Huỳnh Thị Chi làm chứng để cung cấp cho Tòa án xem xét. Tại biên bản ghi lời khai của bà Huỳnh Thị Chi ngày 31/5/2022, bà Chi thừa nhận ông T có nhờ bà ký tên trong biên nhận nợ. Bà Chi khẳng định chữ ký trong biên nhận nợ ngày 18/4/2022 là của ông T. Do đó, lời trình bày của bà T đối với biên nhận nợ ngày 22/01/2021 và biên nhận nợ ngày 18/4/2022 có cùng nội dung ông T nợ bà T 54.000.000 đồng là có căn cứ.

Đối với ông T Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia các phiên hòa giải, tiếp cận, công khai chứng cứ và các phiên tòa nhưng ông T vẫn vắng mặt không lý do chính đáng, không gì sự kiện bất khả kháng nhưng cũng không gửi văn bản có ý kiến phản đối yêu cầu của bà T, không cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó.

-2-

Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu của bà T buộc ông T trả nợ cho bà số tiền 54.000.000 đồng là có căn cứ nên được chấp nhận.

Đối với yêu cầu khởi kiện buộc ông T trả số tiền 13.000.000 đồng mà ông T mượn của bà vào ngày 27/3/2005 (AL). Quá trình tham gia tố tụng bà T có đơn xin rút lại yêu cầu khởi kiện, tại phiên tòa bà T tiếp tục xin rút yêu cầu. Nhận thấy việc rút yêu cầu của bà T là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc và cũng không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Đình chỉ xét xử yêu cầu khỏi kiện của bà T buộc ông T trả số tiền mượn 13.000.000 đồng, nếu sau này có tranh chấp bà T có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ, được chấp nhận.

Về án phí: Bà T không phải chịu án phí. Ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền 54.000.000 đồng là 2.700.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 217, 147; Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, buộc ông T có nghĩa vụ trả cho bà T số tiền là 54.000.000 đồng (Năm mươi bốn triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Đình chỉ xét xử yêu cầu khỏi kiện của bà buộc ông T trả số tiền mượn 13.000.000 đồng, nếu sau này có tranh chấp bà có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật.

- Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bà T không phải chịu. Vào ngày 10/11/2021 bà T nộp 1.675.000 đồng (Một triệu sáu trăm bảy mươi lăm nghìn đồng ) theo biên lai thu tiền số 0017342 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân; bà T được nhận lại khi bản án có hiệu lực pháp luật.

-3-

Buộc ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 2.700.000 đồng (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng), nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Án xử sơ thẩm, bà T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Ông T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ