- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Thị H- phạm tội: Tổ chức dùng chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 197 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Thị H phạm tội “Tổ chức dùng chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 82/2021/HS-ST Ngày 28- 12- 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Độ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Vân và bà Lê Thị Hồng Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Lê Thu Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 92/2021/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2021, đối với bị cáo:
Vũ Thị H : tên gọi khác: Không; sinh ngày 20 tháng 6 năm 1966 tại tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Thôn Đ, xã M, huyện Y, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Văn C và con bà Nguyễn Thị Th (đã chết); chồng: Lý Minh Q và 02 con (con lớn sinh năm 1987, con nhỏ sinh năm 1992); tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo ra đầu thú theo quyết định truy nã số: 27 ngày 07-11-1995, Bị cáo tại ngoại tại thôn Đồng Tâm, xã Mỹ Gia, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Có mặt.
* Người làm chứng:
- Ông Triệu Hồng S, sinh năm 1967; địa chỉ: Tổ 01, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt
- Ông Nguyễn Trung Th, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn Y, xã M, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt
- Ông Lý Minh Q, sinh năm 1963; địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian tháng 6-1995, bị cáo Vũ Thị H cùng chồng là Lý Minh Q đã cho các đối tượng nghiện chất ma túy là Triệu Hồng S, Nguyễn Trung Th và một số đối tượng khác nhiều lần dùng chất ma túy tại nơi ở của mình. Khoảng 00 giờ 24 phút ngày 24-6-1995 khi các đối tượng đang dùng chất ma túy tại nhà của Vũ Thị H thuộc tổ 32, phường Y, thị xã Y thì bị Công an thị xã Yên Bái (nay là Công an thành phố Yên Bái) phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 bàn đèn, tẩu, chày gỗ, kim sắt để tiêm thuốc phiện; 01 đèn đốt mỡ tự chế; 07 mẩu nhựa mầu đen có mùi thuốc phiện; 01 viên thuốc cảm APC đựng trong bao thuốc lá; 01 chén đựng mỡ; 01 chén đựng sái thuốc phiện; 01 xe mô tô nhãn hiệu Win 100 biển kiểm soát 21-295-H6 của Nguyễn Văn Th; 01 xe mô tô nhãn hiệu Win 100 biển kiểm sát 21-476-H4 của Triệu Hồng S (02 xe đều đã qua sử dụng).
Tiến hành khám xét nơi ở của Lý Minh Q, Vũ Thị H , Cơ quan điều tra còn thu giữ: 01 bộ bàn đèn hút thuốc phiện; 01 mẩu nhựa mầu đen để trong vỏ bao thuốc lá 555; 01 ống nứa dài khoảng 37 cm; 01 dao nhọn có vỏ da dài 20 cm; 01 gói gồm nhiều bao nhỏ loại thuốc đau đầu của Trung Quốc; 01 gói nhỏ có 11 mẩu nhựa mầu đen; 01 bộ bàn đèn còn dính sái thuốc phiện; 01 lọ sứ nhỏ trong đựng bột thuốc mầu trắng (nghi thuốc cảm APC); 01 ống tre dính sái thuốc phiện; 02 đoạn gỗ dài 17 cm.
Tại thông báo kết quả giám định số 24 ngày 29/6/1995 của tổ chức giám định pháp y và kỹ thuật Công an tỉnh Yên Bái kết luận:
- Những viên chất dẻo mầu đen đựng trong túi Polyetylen thu tại nhà Lý Minh Quân ở tổ 32, phường Yên Thịnh là thuốc phiện.
- Có tìm thấy chất ma tuý (thuốc phiện) trên ống tẩu hút thu tại nhà Lý Minh Q.
Sau khi bị truy tố Vũ Thị H bỏ trốn khỏi địa phương Ngày 07-11-1995, Công an thị xã Yên Bái (nay là thành phố Yên Bái) đã Quyết định truy nã số 27 đối với Vũ Thị H.
Ngày 08-10-2021, Vũ Thị H đã đến Công an thành phố Yên Bái đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Cáo trạng số 85/CT-VKSTP ngày 15-11-2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái đã truy tố Vũ Thị H về tội “Tổ chức dùng chất ma túy” theo khoản 1 Điều 203 Bộ luật Hình sự năm 1985
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Thị H phạm tội “Tổ chức dùng chất ma túy”
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 203 Bộ luật Hình sự năm 1985 ; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 Xử phạt bị cáo từ 06 (sáu) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng, án phí, quyền kháng cáo: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật
Bị cáo thành khẩn khai báo, không có tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Yên Bái, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái trong giai đoạn điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.
Lời khai của bị cáo Vũ Thị H tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của người người tham gia tố tụng khác, vật chứng bị thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án Do đó, đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng tháng 6-1995 và ngày 24-6-1995 bị cáo Vũ Thị H cùng chồng là Lý Minh Q đã nhiều lần cho một số đối tượng nghiện dùng nơi ở (nhà) của mình để sử dụng chất ma túy. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội: “Tổ chức dùng chất ma túy” theo khoản 1 Điều 203 Bộ luật Hình sự năm 1985 Do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trước ngày 01-01-2018 (ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành), theo quy định tại Nghị quyết 41/2017 ngày 20/6/2017 về thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH 13 đã được sửa đổi bổ sung, thì quy định tại Điều 203 của BLHS năm 1985 có lợi cho người phạm tội. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự công cộng, xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương Đây là nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác Do đó cần đưa bị cáo ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Bị cáo Vũ Thị H chưa có tiền án, tiền sự. Có đủ năng lực nhận thức để điều chỉnh mọi hành vi, hoạt động của bản thân, biết việc cho các đối tượng nghiện sử dụng nơi ở của mình sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Quá trình tại ngoại tại địa phương bị cáo H đã trốn khỏi nơi cư trú, bị truy nã, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng, thể hiện bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật kém Do đó cần phải có một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, đầu thú sau khi bỏ trốn, bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân chương chiến sĩ giải phóng hạng Nhì Theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 (một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi xảy ra trước ngày 01-01-2018), do đó cần xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về đề nghị xin hưởng án treo của Bị cáo Vũ Thị H: Do bị cáo bỏ trốn và bị truy nã nên không đủ điều kiện cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo hiện sức khỏe yếu do bị tai nạn giao thông, mặt khác quy định tại khoản 3 Điều 218 của Bộ luật hình sự năm 1985 không còn phù hợp, do đó xét thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Lý Minh Q là đồng phạm với bị cáo Vũ Thị H, đã bị Tòa án nhân dân thị xã Yên Bái xét xử tại bản án số 82/HSST ngày 15-12-1995 xử phạt Lý Minh Q 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội: “Tổ chức dùng chất ma túy” Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với vật chứng và các tài sản thu giữ khi bắt quả tang và khám xét nơi ở của bị cáo Vũ Thị H và Lý Minh Q đã được xử lý tại bản án số 82/HSST ngày 15-12-1995 của Tòa án nhân dân thị xã Yên Bái, nên Hội đồng xét xử không xem xét
Đối với các đối tượng có liên quan khác, đã được xử lý trong giai đoạn điều tra đối với Lý Minh Q, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Thị H phạm tội “Tổ chức dùng chất ma túy”
2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 203 Bộ luật Hình sự năm 1985; Điều 7; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 Xử phạt bị cáo Vũ Thị H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Vũ Thị H phải chịu 200 000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Yên Bái; - VKSND tỉnh Yên Bái; - VKSND TP. Yên Bái; - Sở Tư pháp tỉnh Yên Bái; - Công an TP; HSNV (2); - THA HS (2); - Chi cục THADS TP. Yên Bái; - Bị cáo; - Lưu HS; TA | TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Thị Độ |