- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đái Ngọc C và Đào Xuân H - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Áp dụng đi m d,đ hoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 82/2021/HS-ST Ngày 23 tháng 7 năm 2021 |
NHÂN DANH
N ỚC CỘNG HO X HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TO N NH N D N TH NH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành ph n i đ ng t sơ thẩm g m c
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan
Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Huy Trụ
2. Ông Trần Đình Đậu
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Tuấn Linh - Thư To n nh n d n th nh phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Huyền - Ki m s t viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2021, tại trụ s To n nh n d n th nh phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ x t xử sơ thẩm C hai vụ n hình sự thụ l số: 72/2021/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 63/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Đái Ngọc C; Tên gọi h c: Đ o Ngọc Q; Sinh năm 1976 tại thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Khu 10, xã K, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Đ i Văn B (đã chết) và bà Kiều Thị T; Có vợ Nguyễn Thị L và 02 con (nhỏ sinh năm 2002, lớn sinh năm 2000);
- Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 155/QĐ-XPHC ngày 26/11/2020 xử phạt Đ i Ngọc C 3.000.000 đồng về hành vi Xâm phạm sức khoẻ của người khác. C chưa nộp tiền phạt.
- Tiền án:
- Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2006/HS-ST ngày 30/3/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt Đ i Ngọc C 03 năm 06 th ng tù về tội Cướp tài sản theo quy định tại đi m d khoản 2 Điều 136 của BLHS năm 1999, 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của BLHS năm 1999 (Trị giá tài sản trộm cắp 3.600.000 đồng). Tổng hợp hình phạt hai tội l 04 năm tù. Tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt 06 tháng tù nhưng cho H1 án treo của bản án số 181/2005/HSST ngày 20/10/2005 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì. Buộc C chấp hành hình phạt của cả hai bản n l 04 năm 06 th ng tù. C đã chấp hành xong hình phạt tù và ra trại ngày 26/10/2009. C chưa thi h nh xong phần bồi thường thiệt hại cho các bị hại trong vụ án Trộm cắp tài sản.
- Nhân thân:
+ Bản án số 181/2005/HSST ngày 20/10/2005 Toà án nhân dân thành phố Việt Trì phạt 06 th ng tù nhưng cho H1 án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội Đ nh bạc, buộc bị cáo C nộp n phí 50.000 đồng và phạt xung C 3.000.000 đồng. Đã chấp hành xong toàn bộ bản án.
+ Bản án số 11/2011/HSST ngày 05/4/2011 của Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt Đ i Ngọc C 07 năm tù về tội Giết người, quản chế bị cáo 18 tháng sau khi mãn hạn tù. Ra trại ngày 15/5/2017. Bị cáo đã chấp hành xong án phí HSST và phần bồi thường thiệt hại. Chấp hành xong hình phạt quản chế ngày 15/11/2018.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/01/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C an tỉnh Phú Thọ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Đào Xuân H; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 24 tháng 01 năm 2002 tại thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; Giới tính: Nam;
Nơi cư trú: Khu 10, xã K, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Đ o Văn H và bà Nguyễn Thị Hoa H; Bị c o chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện tại ngoại tại khu 10, xã K, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Phan Minh H, sinh năm 1994;
Địa chỉ: Đội 5, xã T, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ;
(Có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 19/11/2020, tại trường THPT Vũ Thê Lang thuộc phường Tân Dân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, do mâu thuẫn cá nhân Nguyễn Quang Nam, sinh năm 2004, HKTT: Khu 9, xã K, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ là học sinh lớp 11D1 đã dùng tay đ nh Nguyễn Đăng K, sinh năm 2005, HKTT: Đội 4, xã T, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ là học sinh lớp 10D1 cùng trường. Sau khi bị đ nh, Nam đã nhờ Đ o Xu n H, sinh năm 2002, HKTT: Khu 10, xã K, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ (là em họ của N), còn K nhờ Phan Anh T, sinh năm 1999, HKTT: Đội 5, xã T, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ và Trần Doãn T, sinh năm 1994, HKTT: Đội 5, xã T, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đến trường đ giải quyết mâu thuẫn.
Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi tan học thì nhóm của K và nhóm của Nam gặp nhau cổng trường THPT Vũ Thê Lang. Tại đ y, N bị K dùng ch n đạp vào người và bị Tuấn dùng d p tông đ nh v o mặt, còn H bị T dùng tay tát vào mặt. Do bực tức vì bị nhóm Tú đ nh và muốn trả thù nên khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày H đến nh Đ i Ngọc C (tên gọi h c l Đ o Ngọc Q), sinh năm 1976, HKTT: Khu 10, xã K, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ (là ông trẻ của H) và nói với C: “Có mấy thằng đ nh ch u” đồng thời nhờ C đi đ nh nhau giúp H. C đồng ý và bảo H hẹn gặp nhau tại cổng trường cao đẳng Nghề phường V n Phú đ đ nh nhau. Sau hi được C đồng đi đ nh nhau giúp, H đã liên lạc với Tú qua tin nhắn (Messenger), Tú hẹn đánh nhau tại khu vực cầu vượt trong khu C nghiệp T thuộc Đội 4, xã Thuỵ Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, H nói địa đi m hẹn với C, C bảo H đi ra trước, C sẽ đi sau. H chuẩn bị sẵn 01 (một) chiếc gậy rút ba khúc bằng kim loại đ trong cốp xe mô tô Honda wave m u đen bạc, bi n ki m soát 19S1-244.67 đ đi đ nh nhau v đi ra đi m hẹn. Trên đường đi H liên lạc với Nam bảo Nam đi cùng đ gặp nhóm của Tú và hẹn gặp tại cổng trường Cao đẳng Nghề. Khi ra đến cổng trường Cao đẳng Nghề, H gặp bạn là Nguyễn Xuân Du, sinh năm 2001, trú tại: khu 1, Vân Phú, Việt Trì, Phú Thọ nên đã rủ Du đi cùng ra cầu vượt khu C nghiệp Thuỵ Vân đ nói chuyện giải quyết mâu thuẫn.
Đối với Đ i Ngọc C, sau khi bảo H đi trước C đã lấy 01 (một) con dao (loại dao mèo) dài 35 cm, chuôi bằng nhựa màu trắng d i 12 cm, lưỡi bằng kim loại dài 23 cm, có đầu nhọn đ gầm bàn phòng khách, quấn v o túi nilon m u đen (mỏng) đ trong cốp xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter m u đen trắng BKS 19B1-431.28 của C và đi ra nơi hẹn. Khi C đi xe mô tô đến c y xăng hu C nghiệp T thì gặp H, Nam, Du, cả bốn người đi đến giữa cầu vượt T thì dừng lại và xuống xe đợi nhóm của Tú đến. Trong lúc chờ, H lấy gậy rút ba khúc từ trong cốp xe mô tô ra đúc v o trong túi quần bên trái đ đ nh nhau.
Đối với nhóm của Tú: Theo như đã hẹn, Tú điều khi n xe mô tô Honda Dream ch phía sau là Phan Minh H1, sinh năm 1994, HKTT: Đội 5 , xã T, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ (H1 đang đi chơi cùng Tú nên Tú rủ H1 đi có việc). Trên đường đi, T và H1 gặp Hoàng L, sinh năm 1996, HKTT: Khu 3, xã Minh Côi, huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ v Vũ C Tiến, sinh năm 2003, HKTT: Đội 1, xã Thuỵ Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ (người quen của Tú), L và Tiến hỏi Tú đi đ u, Tú trả lời ra đ y có tí việc sau đó rủ L và Tiến đi cùng luôn. Khoảng 10 phút sau, Tú điều khi n xe mô tô Dream ch H1 ngồi phía sau đến cách vị trí của nhóm H và C đang đứng đợi khoảng 02 mét và dừng lại. C hỏi “Thằng n o đ nh ch u tao” thì H chỉ về phía xe mô tô của Tú và H1 nói “Đ y, mấy thằng n y đ nh ch u”. C m cốp xe mô tô lấy con dao (loại dao mèo), con dao được quấn trong túi nilon m u đen, C cầm vào phần chuôi nhựa của dao tay phải đi đến nhóm của Tú. Tú xuống xe bỏ chạy, còn lại H1 vẫn ngồi sau xe, C đứng đối diện cách H1 khoảng 01m, cầm dao bằng tay phải (lúc này con dao vẫn được quấn ngoài b i túi nilon màu đen), giơ dao lên chém 01 nhát về phía H1 theo chiều từ trên xuống dưới, từ phải sang trái trúng vào vùng cổ bên trái của H1, lúc này túi nilon bọc con dao cũng bị rách, H1 bỏ chạy. C giật bỏ túi nilon bọc ngoài dao bỏ đi rồi tiếp tục dồn đuổi theo. Thấy vậy H lấy gậy 03 khúc bằng kim loại trong túi quần ra cùng C dồn đuổi theo đ đ nh Tú và nhóm của Tú. C và H dồn được khoảng 10m nhưng hông đ nh được ai nên quay lại lấy xe v đi về nhà. Lúc C và H dồn đuổi, N và D do hoảng sợ nên không tham gia đ nh. Sau khi bị C chém, H1 được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện tỉnh Phú Thọ đến ngày 26/11/2020 thì ra viện đồng thời gia đình có đơn đề nghị Cơ quan CSĐT C an thành phố Việt Trì điều tra, giải quyết.
Ngày 14/12/2020, Cơ quan Cảnh s t điều tra C an thành phố Việt Trì đã ra Quyết định trưng cầu gi m định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ th của anh Phan Minh H1. Tại bản Kết luận gi m định pháp y về thương tích số 230/TgT/2020 ngày 16/12/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Phú Thọ kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ th của anh Phan Minh H1 l 15%; Cơ chế hình thành vết sẹo vùng cổ bên trái, rách bán phần tĩnh mạch cảnh ngo i bên tr i do t c động của vật sắc gây nên.
Sau hi g y thương tích cho H1 thì Đ i Ngọc C đã bỏ trốn, Cơ quan Cảnh sát điều tra C an thành phố Việt Trì ra Quyết định truy nã đối với C, ng y 05/01/2021, Cơ quan Cảnh s t điều tra C an thành phố Việt Trì bắt được C và tiến hành khám xét khẩn cấp tại nơi của C tại khu 10, xã K, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, thu giữ của C: 01 con dao dạng dao mèo, ích thước 35 cm, chuôi dài 12 cm bọc nhựa màu trắng, lưỡi dao dài 23cm bằng kim loại, bản rộng 3,5cm, có đầu nhọn.
Ng y 31/3/2021, Đ o Xu n H giao nộp 01 (một) gậy rút ba khúc bằng sắt, ngoài bọc cao su m u đen có tổng chiều dài 63 cm.
Cơ quan Cảnh s t điều tra C an thành phố Việt Trì đã thông b o ết luận giám định cho Đ i Ngọc C, Đ o Xu n H và Phan Minh H1 theo đúng quy định. C, H và H1 đều đồng ý với nội dung kết luận gi m định và không có ý kiến gì.
Tại Cơ quan điều tra, C và H đã hai nhận về hành vi của mình như đã nêu trên. Quá trình điều tra x c định mặc dù không trực tiếp g y thương tích cho H1 nhưng H l người kh i xướng, nhờ C đi đ nh nhau với nhóm của Tú. Khi đến nơi hẹn H chỉ cho C nhóm của Tú trong đó có H1 đ C dùng dao chém H1 g y thương tích sau đó H dùng gậy ba khúc bằng sắt cùng C tiếp tục truy đuổi nhóm của Tú. Vì vậy, Đ o Xu n H l đồng phạm với Đ i Ngọc C về thương tích C gây ra cho H1.
Đối với Nguyễn Quang Nam, Nguyễn Đăng K, Phan Anh T, Trần Doãn T xét thấy hành vi của c c đối tượng đ nh nhau tại cổng trường THPT Vũ Thê Lang chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự do vậy ngày 27/5/2021, C an thành phố Việt Trì ra Quyết định xử phạt vi phạm h nh chính đối với Nam, K, Tú và Tuấn về hành vi xâm hại đến sức khỏe người h c quy định tại đi m e khoản 3 Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính Phủ.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter m u đen trắng gắn BKS 19B1-431.28 qua xác minh chủ xe là anh Lê Tiến N, địa chỉ: Khu 3, xã Hùng Lô, Việt Trì, Phú Thọ. Anh N bán lại cho anh Nguyễn Tuấn Vũ (ch u họ C), sinh năm 1990, địa chỉ: Khu 3, xã Hùng Lô, Việt Trì, Phú Thọ. Sau đó, Vũ b n lại cho Đ i N C. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra x c định hông liên quan đến vụ n nên hông đề cập xử lý.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave m u đen bạc, bi n ki m soát 19S1-244.67 qua xác minh chủ xe là Nguyễn Thị T, địa chỉ: Khu 16, T, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Chị T bán lại cho ông Đ o Văn H, sinh năm 1978 (bố của Đào Xuân H). Qu trình điều tra, Cơ quan điều tra x c định hông liên quan đến vụ án nên hông đề cập xử lý.
Về vật chứng, tài sản thu giữ: 01 con dao dạng dao mèo, ích thước 35 cm, chuôi dài 12 cm bọc nhựa màu trắng, lưỡi dao dài 23cm bằng kim loại, bản rộng 3,5cm, có đầu nhọn thu giữ của C và 01 (một) gậy rút ba khúc bằng sắt, ngoài bọc cao su m u đen có tổng chiều dài 63 cm thu giữ của H.
Về trách nhiệm dân sự: các bị cáo Đ i N C và Đ o Xuân H đã bồi thường cho anh Phan Minh H1 số tiền 50.000.000 đồng. Anh H1 hông có đề nghị bồi thường thêm gì v có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đ i N C và Đ o Xuân H.
Về điều kiện kinh tế của các bị cáo: Cơ quan Cảnh s t điều tra đã x c minh, x c định bị cáo Đ i N C v Đ o Xu n H tại địa phương hiện không có tài sản riêng gì có giá trị.
Tại Cáo trạng số 77/CT-VKS-VT ngày 24/6/2021, Viện ki m sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Đ i N C (tên gọi khác Đ o N Q) phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại đi m d,đ hoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự và bị cáo Đ o Xuân H phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại đi m đ hoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện ki m sát nhân dân thành phố Việt Trì vẫn giữ nguyên quan đi m như bản cáo trạng đã nêu v đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị c o Đ i N C v Đ o Xu n H phạm tội “Cố g y thương tích”.
- Về hình phạt chính:
+ Áp dụng đi m d,đ hoản 2 Điều 134; đi m b,s hoản 1,2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Đề nghị xử phạt bị c o Đ i N C từ 30 th ng đến 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ng y bắt tạm giữ 05/01/2021.
+ Áp dụng đi m đ hoản 2 Điều 134; đi m b,s hoản 1,2 Điều 51; Điều 65 Bộ
Đề nghị xử phạt bị c o Đ o Xu n H từ 30 th ng đến 36 tháng tù nhưng cho H1 n treo, thời gian thử th ch 60 th ng tính từ ng y tuyên n sơ thẩm.
Giao bị c o Đ o Xu n H cho UBND xã K, th nh phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ gi m s t gi o dục trong thời gian thử th ch. Trường hợp bị c o có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định theo Điều 92 Luật THAHS. Trong thời gian thử th ch, người được H1 n treo cố vi phạm nghĩa vụ 02 lần tr lên thì Tòa n có th quyết định buộc người được H1 n treo phải chấp h nh hình phạt tù của bản n đã cho H1 án treo.
- Về xử l vật chứng: Áp dụng đi m a hoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Đi m a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy: 01 con dao dạng dao mèo, ích thước 35 cm, chuôi d i 12 cm bọc nhựa m u trắng, lưỡi dao d i 23cm bằng im loại, bản rộng 3,5cm, có đầu nhọn thu giữ của Đ i N C v 01 (một) gậy rút ba húc bằng sắt, ngo i bọc cao su m u đen có tổng chiều d i 63 cm thu giữ của Đ o Xuân H.
- Về bồi thường thiệt hại: X c nhận c c bị c o đã cùng nhau bồi thường đủ số tiền 50.000.000 đồng cho người bị hại.
- Áp dụng hoản 2 Điều 136 BLTTHS; đi m a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: mỗi bị c o phải chịu n phí theo quy định của ph p luật.
Qu trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Đ i N C và Đ o Xuân H không có ý kiến gì về bản Kết luận gi m định pháp y về thương tích số 230/TgT/2020 ngày 16/12/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Phú Thọ và đồng ý với bản cáo trạng của Viện ki m sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Tại phiên tòa các bị cáo nói lời sau cùng:
Bị cáo Đ i Ngọc C: Bị c o đề nghị hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Đ o Xuân H: Bị c o đề nghị hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung vụ n, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ n đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra C an thành phố Việt Trì, Điều tra viên; Viện ki m sát nhân dân thành phố Việt Trì, Ki m sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qu trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó c c h nh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi cấu thành tội phạm của các bị cáo:
Do m u thuẫn với nhóm của Phan Anh T từ trước nên Đ o Xu n H đã nhờ Đ i Ngọc C là ông trẻ của H cùng với H đi đ nh nhau với nhóm của Tú. Khoảng gần 12 giờ, ng y 19/11/2020 tại cầu vượt thuộc hu C nghiệp T, thuộc Đội 4 xã Thuỵ V n, th nh phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, C đã dùng dao (loại dao mèo) chém g y thương tích vùng cổ tr i của Phan Minh H1 l người trong nhóm của Tú với tỷ lệ tổn thương cơ th l 15%. Hành vi dùng dao l hung hí nguy hi m chém v o vùng cổ tr i của anh Phan Minh H1 làm anh H1 bị tổn hại sức hỏe l 15% của bị c o Đ i Ngọc C đã đủ yếu tố cấu th nh tội “Cố g y thương tích” theo đi m đ hoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2006/HS-ST ngày 30/3/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt Đ i N C 03 năm 06 th ng tù về tội Cướp tài sản theo quy định tại đi m d khoản 2 Điều 136 BLHS 1999, 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS 1999 (Trị giá tài sản trộm cắp 3.600.000 đồng). Tổng hợp hình phạt hai tội l 04 năm tù. Tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt 06 tháng tù treo của bản án số 181/2005 ngày 20/10/2005 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì. Buộc C chấp hành hình phạt của cả hai bản n l 04 năm 06 th ng tù. C đã chấp hành xong hình phạt tù và ra trại ngày 26/10/2009. Do Bản n số 36/2006/HS-ST ngày 30/3/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ x c định C đã t i phạm v đến thời đi m phạm tội lần n y chưa chấp h nh xong phần bồi thường thiệt hại nên chưa được xóa n tích vì vậy lần phạm tội n y l t i phạm nguy hi m, đ y l tình tiết định hung tăng nặng quy định tại đi m d hoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Đ o Xuân H: Mặc dù hông trực tiếp g y thương tích cho H1 nhưng Đ o Xu n H l người nhờ C là ông trẻ của H đi đ nh nhau, hi C g y thương tích cho H1, H hông can ngăn m bỏ mặc cho hậu quả xảy ra đồng thời dùng gậy rút ba húc bằng sắt tiếp tục cùng C đuổi theo nhóm của Tú. Vì vậy, H phải chịu trách nhiệm hình sự vai trò đồng phạm với C về tội “Cố g y thương tích” theo quy định tại đi m đ hoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự thuộc tình tiết “Dùng vũ hí, vật liệu nổ, hung khí nguy hi m hoặc thủ đoạn có khả năng g y nguy hại cho nhiều người” theo quy định tại đi m a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
i) Có tính chất côn đồ
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
…
d) Tái phạm nguy hiểm
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.
. Vụ án có tính chất nghiêm trọng, có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, các bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là nguy hi m cho xã hội, gây ảnh H1 xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ xong các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi của mình. Nguyên nh n đ dẫn đến hành vi phạm tội của các bị cáo xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân giữa H và nhóm của Tú nên Đ o Xu n H đã nhờ Đ i N C là ông trẻ của H cùng với H đi đ nh nhau với nhóm của Tú dẫn đến g y thương tích cho anh Phan Minh H1. Điều này th hiện th i độ coi thường pháp luật, sức khỏe của người khác của các bị cáo. Vì vậy cần phải đưa vụ án ra xét xử và có hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội của từng bị cáo. Tuy nhiên trước khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự các của bị cáo như sau:
Về tình tiết tăng nặng tr ch nhiệm hình sự: Bị c o Đ i Ngọc C và Đ o Xuân H hông phải chịu tình tiết tăng nặng tr ch nhiệm hình sự n o.
Về tình tiết giảm nhẹ tr ch nhiệm hình sự:
Qu trình điều tra, truy tố, x t xử các bị c o Đ i Ngọc C và Đ o Xuân H thành hẩn hai b o, ăn năn hối cải về h nh vi phạm tội của mình v đã bồi thường thiệt hại cho bị hại nên được H1 tình tiết giảm nhẹ tr ch nhiệm hình sự theo quy định tại đi m b,s hoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị hại l anh Phan Minh H1 có đơn đề nghị Hội đồng x t xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị c o vì vậy các bị c o được H1 thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại hoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Đối với bị c o Đ i Ngọc C mặc dù hông có m u thuẫn gì với bị hại nhưng hi nghe bị c o H nhờ đi đ nh nhau đã mang theo dao (loại dao mèo) v trực tiếp chém anh H1 dù anh H1 không chống cự v hông có vật gì đ tự vệ (khi chém anh H1 con dao vẫn được quấn ngo i b i túi nilon m u đen). Hành vi này của bị cáo th hiện tính chất côn đồ. Bị c o l người có nh n th n xấu, đã từng bị Tòa n x t xử về tội “Giết người” và đã được xóa án tích. Ngoài ra bị c o có 01 tiền n về tội Trộm cắp t i sản v 01 tiền sự về h nh vi Xâm phạm sức khoẻ của người khác, bị c o chưa chấp hành xong hình phạt. Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đ răn đe, gi o dục, cải tạo bị cáo tr thành C dân có ích cho gia đình và xã hội.
Đối với bị c o Đ o Xu n H tham gia vụ án với vai trò đồng phạm, bị cáo không trực tiếp g y thương tích cho anh H1 nhưng bị cáo l người đã nhờ C (C là ông trẻ của H) đi đ nh nhau dẫn đến hậu quả C g y thương tích làm tổn hại sức khỏe cho anh H1. Đồng thời H dùng gậy rút ba khúc bằng sắt cùng C đuổi theo nhóm của Tú được khoảng 10m thì quay về. Bị cáo nhân thân không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng và bị cáo có khả năng tự cải tạo không cần thiết phải chấp hành hình phạt tù nên áp dụng khoản 1 Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo H được cải tạo ngoài xã hội.
. Về tr ch nhiệm d n sự:
Xác nhận các bị cáo Đ i Ngọc C và Đ o Xuân H đã bồi thường cho anh Phan Minh H1 số tiền 50.000.000 đồng. Anh H1 đã nhận đủ số tiền 50.000.000 đồng và không yêu cầu các bị cáo C và H phải bồi thường thêm bất cứ một khoản tiền nào khác. Xét thấy đ y l sự tự nguyện của các bị cáo C, H và anh Phan Mạnh H1 vì vậy cần xác nhận.
. Về xử l vật chứng:
Đối với 01 con dao dạng dao mèo, ích thước 35 cm, chuôi d i 12 cm bọc nhựa m u trắng, lưỡi dao d i 23cm bằng im loại, bản rộng 3,5cm, có đầu nhọn thu giữ của bị cáo C v 01 (một) gậy rút ba húc bằng sắt, ngo i bọc cao su m u đen có tổng chiều d i 63 cm thu giữ của bị cáo H là C cụ, phương tiện c c bị c o dùng vào việc phạm tội nên căn cứ đi m a hoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, đi m a hoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc điện thoại di động bị cáo H sử dụng đ liên lạc với Tú qua tin nhắn (Messenger) hẹn đ nh nhau tại hu vực cầu vượt thuộc khu C nghiệp T thuộc Đội 4, xã Thuỵ V n, th nh phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, quá trình điều tra xác định H đã bán nên Cơ quan điều tra không thu giữ được đ xử lý.
Về n phí: Các bị c o phải chịu tiền n phí hình sự sơ thẩm theo quy định của ph p luật.
Đối với Nguyễn Quang N, Nguyễn Đăng K, Phan Anh T, Trần Doãn T xét thấy hành vi của c c đối tượng đ nh nhau tại cổng trường THPT Vũ Thê Lang chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngày 27/5/2021, C an thành phố Việt Trì ra Quyết định xử phạt vi phạm h nh chính đối với Nam, K, T và T về hành vi xâm hại đến sức khỏe người khác quy định tại đi m e khoản 3 Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính Phủ là phù hợp.
Xét thấy đề nghị của Viện ki m sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ có căn cứ cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng đi m d,đ hoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Đ i N C (tên gọi khác là Đ o Ngọc Q) phạm tội “Cố ý gây thương tích” .
Áp dụng đi m đ hoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Đào Xuân H phạm tội “Cố g y thương tích” .
1. Áp dụng đi m d,đ hoản 2 Điều 134; đi m b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Đ i N C (tên gọi khác là Đ o Ngọc Q) 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ng y bắt tạm giữ bị c o l ng y 05/01/2021.
2. Áp dụng đi m đ hoản 2 Điều 134; đi m b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1,2,5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Đ o Xuân H 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho H1 án treo. Thời gian thử thách 05 (Năm) năm. Thời gian thử thách tính từ ng y tuyên n sơ thẩm. Giao bị cáo Đ o Xuân H cho Ủy ban nhân dân xã K, th nh phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị c o Đ o Xuân H có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã K, th nh phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ trong việc gi m s t, gi o dục bị c o. Trong trường hợp người được H1 n treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử th ch, người được H1 n treo cố vi phạm nghĩa vụ 02 lần tr lên thì Tòa n có th quyết định buộc người được H1 án treo phải chấp h nh hình phạt tù của bản n đã cho H1 án treo.
Về xử l vật chứng:
Căn cứ v o đi m a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; đi m a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 con dao dạng dao mèo, ích thước 35 cm, chuôi d i 12 cm bọc nhựa m u trắng, lưỡi dao d i 23cm bằng im loại, bản rộng 3,5cm, có đầu nhọn đã qua sử dụng v 01 (một) gậy rút ba húc bằng sắt, ngo i bọc cao su m u đen có tổng chiều d i 63 cm đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/6/2021)
Về trách nhiệm dân sự:
X c nhận các bị c o Đ i Ngọc C (tên gọi h c l Đ o Ngọc Q) và Đ o Xuân H đã bồi thường cho anh Phan Minh H1 số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; đi m a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ng y 30 th ng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Các bị cáo Đái N C (tên gọi khác là Đ o N Q) và Đào Xuân H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, k từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày k từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Phú Thọ; - S Tư ph p tỉnh Phú Thọ; - Trại tạm giam C an tỉnh Phú Thọ; - VKSND thành phố Việt Trì; - C an thành phố Việt Trì; - Chi cục THADS thành phố Việt Trì; - UBND xã K, Tp Việt Trì; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị N Lan |