vanban.org

Bản án 82/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 18/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Tuyên bố: Bị cáo Lương Đình N phạm tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Về hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Đình N - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 341 Luậ…"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SƠN DƯƠNG
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2021/HS-ST
Ngày: 18-6-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Khánh.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Vượng.

2. Ông Nguyễn Ngọc Xuyến.

- Thư ký phiên toà: Bà Ma Thị Vân Kiều - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Bà Hà Thu Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 18/6/2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 86/2021/TLST- HS ngày 25 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2021/QĐXXST-HS, ngày 07 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:

Lương Đình N, sinh ngày 03/02/1971 tại huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi cư trú: Thôn X, thị trấn B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; con ông Lương Đình P (đã chết) và bà Quách Thị T, sinh năm 1940; vợ: Nguyễn Thị C, sinh năm 1975; con: có 02 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2001; anh chị em ruột: có 04 người, bị cáo là con thứ 2; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/4/2021 đến ngày 23/4/2021 (theo Quyết định truy nã số 01 ngày 13/4/2021), được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại (có mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Đức T, sinh năm 1977, trú tại: thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 9/2020, Lương Đình N làm thuê ở bến xe khách Miền Đông, thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình làm việc tại đây, do có nhu cầu sử dụng giấy phép lái xe hạng E giả nên N đã tìm hiểu trên Internet và liên hệ được với 01 người đàn ông khoảng 40 - 50 tuổi (không rõ họ tên địa chỉ) mua được 01 giấy phép lái xe giả hạng E, FC số 740101000739 mang tên Hồ Văn Phúc, sinh ngày 18/12/1968, nơi cư trú: 165/33 Tân Thanh, phường Tây Thạnh, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28/6/2018 nhưng dán ảnh chân dung của Lương Đình N giá tiền khoảng 3.500.000 đồng.

Khoảng giữa tháng 11/2020, Lương Đình N đi đến nhà Trần Đức T, trú tại thôn Tân Thành, xã Thái Hòa, huyện Hàm Yên để lái xe thuê cho Thắng, N nói với anh Thắng mình có bằng lái xe hạng E, anh Thắng không kiểm tra bằng lái xe của N nên không biết N sử dụng bằng giả. Ngày 30/11/2020, anh Thắng giao xe và giấy tờ xe ô tô khách 17 chỗ biển kiểm soát 29F - 009.48 cho N để chở khách đi từ huyện Hàm Yên đến tỉnh Bắc Ninh. Khoảng 10 giờ 25 phút cùng ngày, khi N điều khiển xe ô tô chở 05 hành khách đi đến Km188 + 100 đường Quốc lộ 37 thuộc thôn Hưng Thịnh, xã Tú Thịnh, huyện Sơn Dương, huyện Sơn Dương thì bị Tổ công tác liên ngành Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Tuyên Quang ra tín hiệu dừng xe kiểm tra. Lương Đình N xuống xe và xuất trình giấy tờ của xe ô tô biển kiểm soát 29F - 009.48 cùng 01 giấy phép lái xe hạng E, FC mang tên Hồ Văn Phúc. Qua kiểm tra, nghi ngờ giấy phép lái xe ô tô trên là giả nên Tổ công tác đã tố giác hành vi của N đến Cơ quan điều tra Công an huyện Sơn Dương.

Tại Kết luận giám định số 935 ngày 10/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang kết luận: “GIẤY PHÉP LÁI XE/DRIVER’S LICENSE” số 740101000739 hạng E, FC mang tên Hồ Văn Phúc; Sinh ngày 18/12/1968, ghi ngày cấp 28/6/2018, có hình dấu Sở giao thông vận tải TP Hồ Chí Minh là giả.

Công văn số 1902 ngày 16/12/2020 của Sở giao thông vận tải tỉnh Tuyên Quang nội dung: Sau khi tra cứu trên trang thông tin quản lý Giấy phép lái xe của Tổng cục đường bộ Việt N, kết quả như sau: Giấy phép lái xe ô tô hạng E, FC số 740101000739 mang tên Hồ Văn Phúc, sinh ngày 18/12/1968, cư trú 165/33 Tây Thạnh, phường Tây Thạnh, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh do Sở giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28/6/2018 có giá trị đến 28/6/2023. Tuy nhiên ảnh chân dung của bản sao Giấy phép lái xe do Cơ quan điều tra Công an huyện Sơn Dương cung cấp không trùng khớp với ảnh chân dung của giấy phép lái xe lưu trên hệ thống quản lý giấy phép lái xe.

Đối với Lương Đình N, sau khi bị khởi tố đã đi khỏi địa phương, Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã số 01 ngày 13/4/2021, đến ngày 20/4/2021, Lương Đình N đến Công an huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa đầu thú.

Cáo trạng số 52/CT-VKSSD, ngày 24 tháng 5 năm 2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Lương Đình N về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:

- Tuyên bố: Bị cáo Lương Đình N phạm tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

- Áp dụng: khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lương Đình N từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ

Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án: 01 giấy phép lái xe giả hạng E, FC số 740101000739 mang tên Hồ Văn Phúc (dán ảnh chân dung Lương Đình N).

+ Đối với 01 xe ô tô biển kiểm soát 29F - 009.48 thu giữ ngày 30/11/2020; ngày 26/12/2020, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là Trần Đức T cùng các giấy tờ liên quan nên không đề nghị xem xét.

- Về án phí, quyền kháng cáo: Buộc bị cáo phải chịu tiền án phí và tuyên quyền kháng cáo của bị cáo, người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về nội dung vụ án:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.

Ngoài lời khai nhận của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng toàn bộ những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 30/11/2020, tại thôn Hưng Thịnh, xã Tú Thịnh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, Lương Đình N, có hành vi sử dụng giấy phép lái xe hạng E, FC giả, không phải do cơ quan có thẩm quyền cấp để điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 29F - 009.48 lưu thông trên đường quốc lộ.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố Lương Đình N về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” là đúng người, đúng tội. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước về thủ tục cấp giấy phép lái xe; gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Hành vi sử dụng giấy phép lái xe hạng E, FC giả để tham gia giao thông đã bị phát hiện kịp thời, chưa gây ra hậu quả nhưng từ hành vi này cho thấy ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, có như vậy mới đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương nhất là tội phạm về xâm phạm trật tự quản lý hành chính và răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo ra đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt cần áp dụng cho bị cáo để có mức án phù hợp.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Bị cáo sau khi phạm tội đã đi làm thuê kiếm sống ở các xã lân cận, được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Dương triệu tập, gọi điện thoại nhiều lần yêu cầu ra làm việc nhưng do hoàn cảnh gia đình khó khăn không có điều kiện kinh tế để đi lại và trùng vào thời điểm dịch bệnh Covid-19 bùng phát giao thông đi lại khó khăn nên bị cáo không có mặt theo yêu cầu. Bị cáo không biết Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Dương ban hành Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can. Việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Dương không tống đạt hợp lệ các quyết định trên cho bị cáo là lỗi của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Dương, dẫn đến việc bị cáo không biết hành vi của mình đã bị khởi tố, điều tra. Sau khi được gia đình thông báo bị cáo mới biết mình bị truy nã nên đã nhanh chóng đến Công an huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa đầu thú mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật. Do đó, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Quá trình điều tra xác định bị cáo hiện không có việc làm ổn định, kinh tế khó khăn, không có tài sản gì có giá trị, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là Phạt tiền theo quy định tại khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự và không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng:

Đối với 01 giấy phép lái xe ô tô hạng E, FC số 740101000739 (giấy phép lái xe giả) mang tên Hồ Văn Phúc (dán ảnh chân dung Lương Đình N) là tang vật của vụ án cần lưu theo hồ sơ vụ án.

Đối với 01 xe ô tô biển kiểm soát 29F - 009.48 cùng các giấy tờ liên quan, ngày 26/12/2020, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Trần Đức T, anh Thắng không có ý kiến gì nên HĐXX không xem xét.

Về phần dân sự:

Sau khi được Cơ quan điều tra trả lại 01 xe ô tô biển kiểm soát 29F - 009.48 cùng các giấy tờ liên quan, anh Trần Đức T là chủ sở hữu không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên HĐXX không xem xét.

Các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông bán giấy phép lái xe ô tô giả cho Lương Đình N, quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ nên không có cứ điều tra xử lý.

Đối với anh Trần Đức T giao xe ô tô là nguồn gây nguy hiểm cao độ cho Lương Đình N, do anh Thắng không biết N sử dụng bằng lái xe giả nên không đề nghị xử lý.

Do đó, HĐXX không xem xét.

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về án phí và quyền kháng cáo bản án:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Các Điều 106, 136, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Tuyên bố: Bị cáo Lương Đình N phạm tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

1. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Lương Đình N 01 (một) năm Cải tạo không giam giữ, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 20/4/2021 đến ngày 23/4/2021 là 03 ngày, quy đổi bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành hình phạt là 11 (mười một) tháng 21 (hai mốt) ngày cải tạo không giam giữ.

Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo Lương Đình N được tính từ ngày Uỷ ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Lương Đình N cho Ủy ban nhân dân thị trấn Bến Sung, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thi hành án.

2. Về vật chứng:

- Lưu theo hồ sơ vụ án 01 giấy phép lái xe ô tô hạng E, FC số 740101000739 (giấy phép lái xe giả).

3. Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ