- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Công T - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Nguyễn Văn T2, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 15 Bộ luật Hình sự
| TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 82/2021/HS-PT Ngày: 19-01-2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Cƣờng
Các Thẩm phán:
Ông Trƣơng Minh Tuấn
Ông Nguyễn Thanh Long
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp
cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên
tòa: Ông Phạm Tấn Ánh - Kiểm sát viên.
Vào ngày 19 tháng 01 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình
Định, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 60/TLPT-HS ngày 25 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo: Trƣơng Công T về tội “Giết người”. Do có kháng cáo của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2020/HS-ST ngày 10/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
- Bị cáo liên quan đến kháng cáo:
TRƢƠNG CÔNG T - sinh ngày: 02/4/2001 tại Bình Định; Trú tại: Thôn
T1, xã H, Huyện H1, Bình Định; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hóa: 06/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tông giáo: Không; giới tính: Nam; con ông: Trương Văn C và bà Phạm Thị H2; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam ngày 28/11/2019; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa: Ông Hoàng Trọng Q - Luật sư hoạt động tại Văn
phòng luật sư H3 – Đoàn luật sư tỉnh Bình Định bào chữa cho bị cáo theo luật định. Có mặt.
- Bị hại có kháng cáo:
Anh Nguyễn Văn T2 – sinh năm: 2000; Trú tại: thôn TA, xã H4, Huyện
H1, Bình Định. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Phạm Ngọc Nh – sinh năm: 1999; trú tại: thôn M1, xã H4, Huyện
H1, Bình Định. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19h00’ ngày 11/11/2019, có 12 thanh niên gồm: Nguyễn Hữu
M2 Trần Minh S, Dương Thanh Q, Nguyễn Ngọc H5, Trần Minh L1, Võ Hữu Tr, Huỳnh Công V1, Lê Thanh Ph, Trương Văn Th1, Phạm Ngọc Nh, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Văn M3 đến hát karaoke tại phòng số 2 quán karaoke AM, thuộc thôn T1, xã H, huyện H1, tỉnh Bình Định. Sau đó, S gọi điện thoại rủ Trương P1 đến hát cùng. Lúc này, tại nhà P1 có 04 người gồm: Trương Công T, Thái Thành T3, Trần Xuân H6, Đặng Thanh T4 là bạn P1 đang uống bia, nên P1 rủ T, T3, T4, H6 cùng đến quán karaoke AM hát cùng với nhóm của S.
Trong lúc hát, Nh từ ngoài đi vào phòng thấy P1 (là bạn của Nh) nên có
nói đùa với P1, nhưng vì P1 say nên giữa Nh và P1 xảy ra mâu thuẫn dẫn đến xô đẩy, cãi vã nhau. Thấy vậy cả nhóm cùng can ngăn không cho đánh nhau. Trong lúc can ngăn thì P1 càn quấy, to tiếng cãi nhau với M3 và T2. Nghe thấy ồn ào, nên chủ quán karaoke AM không cho hát nữa và đuổi cả nhóm ra ngoài. Cùng lúc này, T4, T, H6, T3, Nh và một số người khác tiếp tục can ngăn, kéo P1 ra ngoài quán; đồng thời chủ quán AM kéo cổng quán lại để ngăn chặn không cho P1 và những người ở ngoài vô lại quán. Còn trong quán lúc này có M3, T2 và một số người khác. Lúc này bên ngoài cổng quán, T4 tiếp tục can ngăn, nhưng P1 vẫn vùng vẫy, xô đẩy không chịu đi về, nên T4 bực mình dùng tay đánh vào vùng cổ-vai phải P1 một cái và nói “Tao đánh cho mày tỉnh” (với mục đích để P1 tỉnh táo lại). Bị T4 đánh nên P1 dùng tay đánh lại T4; T thấy vậy cũng xông vào đánh T4 vì bênh vực P1 (anh T). M3, T2 đang ở trong quán thấy T4 bị đánh nên trèo cổng ra ngoài cùng đánh lại P1, T vì bênh vực T4. M3, T2 dùng tay, chân đánh P1 ngã xuống nền đường đất trước quán. Sau khi đánh P1 ngã thì M3, T2 xông đến đánh T bằng tay, chân, thì T dùng tay, chân đánh lại. Do bị 2 người tấn công cùng lúc nên T lấy con dao bấm có sẵn trong túi quần bên phải ra để đâm lại T2 và M3 (con dao dài 17 cm, cán có 02 lá kim loại kích thước (10X2,7)cm, trên một lá có gắn một miếng nhựa màu vàng đen đà, kích thước miếng nhựa là (7X2,2)cm, trên miếng nhựa này có gắn một la bàn hình tròn có đường kính 1,2 cm; lưỡi kim loại sắc nhọn, dài 07 cm, bản rộng nhất 2,3 cm có chữ U.S.A được khắc chìm trên phần lưỡi). Lúc này, M3 thấy P1 đứng ở sau lưng, sợ P1 xông đến đánh nên M3 không đánh T nữa mà quay người về phía P1, lưng quay về phía T, cách T khoảng 0,5 m. T bật lưỡi dao, cầm dao bằng tay phải đâm ngang từ trái qua phải vào người M3 nhưng không trúng, ngay sau đó T vung dao đâm bổ mạnh một nhát từ trên xuống trúng vào thành sau ngực phải của M3; M3 quay người lại giơ tay phải lên đỡ thì T tiếp tục vung dao đâm ngang từ trái qua phải trúng vùng thắt lưng hông phải của M3. Cùng lúc này, T thấy T2 xông tới đánh mình thì tiếp tục vung dao đâm liên tục từ trái qua phải và từ phải qua trái thì trúng một nhát vào vùng hông phải của T2. Nh thấy M3, T2, T đánh nhau nên vào can ngăn, nhưng khi vừa đẩy T2 ra thì Nh thấy đau nhói ở lòng bàn tay phải, biết bị đâm nên Nh chạy đến nói cho P1 biết. Lúc này, số người trong quán thấy đánh nhau nên gọi chủ quán mở cổng để ra can ngăn. Khi mọi người đi ra thì thấy T2, Nh bị thương nên đưa đi cấp cứu; sau đó phát hiện M3 nằm bất tỉnh ở gần đó nên tiếp tục đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa khu vực Bồng Sơn.
Sau khi gây án, Trương Công T điều khiển xe môtô chở Trương P1 đi về
nhà, còn con dao bấm rơi tại hiện trường đã được thu giữ. Hậu quả: Nguyễn Văn M3, Nguyễn Văn T2 đều bị thương tích nặng được đưa đi cấp cứu. Đối với Phạm Ngọc Nh bị thương nhẹ ở lòng bàn tay phải đã từ chối giám định và không yêu cầu xử lý hình sự đối với Trương Công T.
1. Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 16/2020/PY-TgT
ngày 17/02/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định kết luận đối với Nguyễn Văn M3 như sau:
- Vết thương vùng ngực phải (thực tế thành sau ngực phải tương ứng cung
sau xương sườn VII) thấu ngực-bụng gây: Thủng màng phổi tràn khí màng phổi; Đứt bao gan, nhu mô gan hạ phân thùy VI, VII tràn máu ổ bụng.
Đã phẫu thuật: Dẫn lưu màng phổi phải; mở bụng thăm dò, cầm máu vết
thương gan.
Hiện tại: Bụng sẹo mổ đường giữa trên-dưới rốn kích thước (13,5x0,7)cm,
sẹo lồi; Thành sau ngực phải để sẹo lồi hình L kích thước (12x0,5)cm; Sẹo dẫn lưu màng phổi phải kích thước (1,5x1)cm; Vết thương vùng hông-lưng phải (thực tế thắt lưng hông) đã phẫu thuật mở rộng, khâu vết thương. Hiện vùng thắt lưng hông phải vết thương để sẹo lồi kích thước (8x0,7)cm.
Căn cứ Bảng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể ban hành kèm theo Thông
tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 45%.
2. Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 15/2020/PY-TgT
ngày 17/02/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định kết luận đối với Nguyễn Văn T2 như sau:
Vết thương vùng hông phải, thành bụng vào hố thận phải (không tổn
thương thận) đã phẫu thuật cầm máu vết thương, dẫn lưu hố thận. Hiện vùng hông phải vết thương để sẹo kích thước (2x0,3)cm, có vết mổ tiếp giáp vết thương về phía dưới ngoài kích thước (8x0,2)cm.
Căn cứ Bảng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể ban hành kèm theo Thông
tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 03%.
3. Tại Bản kết luận giám định số 1240/C09C(Đ5) ngày 14/01/2020 của
Phân viện KTHS Bộ Công an tại TP Đà Nẵng kết luận như sau: “Trên con dao có dính máu. Do chất lượng dấu vết kém nên không xác định được có phải là máu người hay không và không giám định được ADN nên không truy nguyên được đối tượng”.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 29/2020/HS-ST ngày 10/9/2020 của Toa
fasn nhân dân tỉnh Bình Định đã quyết định
Tuyên bố: Bị cáo Trương Công T phạm tội “Giết người”.
- Căn cứ vào: Điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2
Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57; Điều 54 BLHS.
- Xử phạt: Bị cáo Trương Công T 09 (chín) năm tù, thời hạn chấp hành
hình phạt tù tính từ ngày bắt giam 28/11/2020.
Ngoài ra bản án còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền
kháng cáo.
Ngày 15/9/2020 bị hại Nguyễn Văn T2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan ông Phạm Ngọc Nh kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm
tiến hành xét xử vụ án mặc dù bị hại có kháng cáo xin giảm hình phạt cho bị cáo vắng mặt tại phiên tòa nhưng không thuộc trường hợp hoãn phiên toà theo quy định tại Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của người bị hại Nguyễn Văn T2, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phạm Ngọc Nh không có quyền kháng cáo về hình phạt nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình
phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên toà, xem xét quan điểm của Viện kiểm sát, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Phạm Ngọc Nh là người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan trong vụ án có đơn xin giảm hình phạt cho bị cáo, thấy rằng theo quy định tại Điều 65 Bộ luật tố tụng hình sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng caó những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của mình, do đó đơn xin giảm hình phạt của ông Phạm Ngọc Nh đối với bị cáo Trương Công T không được cấp phúc thẩm xem xét.
Bị cáo Trương Công T không kháng cáo, quá trình điều tra, giải quyết
vụ án cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 19h00’ ngày 11/11/2019 thấy Trương P1 là anh ruột của mình bị Đặng Thành T4 đánh nên Trương Công T đã xông vào đánh Đặng Thành T4, lúc này Nguyễn Văn M3, Nguyễn Văn T2 thấy T4 bị đánh nên xông vào dùng tay, chân đánh lại P1 và T nên T lấy 01 con dao bấm để sẵn trong túi quần rút ra đâm từ trên xuống trúng vào thành sau ngực phải của M3; M3 quay người lại giơ tay phải lên đỡ thì T tiếp tục vung dao đâm ngang từ trái qua phải trúng vùng thắt lưng hông phải của M3 gây thương tích 45%; vừa lúc đó T2 thấy M3 bị đánh nên xông đến định đánh T thì bị T dùng dao đâm liên tiếp trúng 1 nhát vào vùng thắt lưng hông phải của T2 gây thương tích 03%. Thấy vậy, Nh vào can ngăn cũng bị T đâm trúng vào lòng bàn tay phải nhưng anh Nh từ chối giám định.
Bị cáo Trương Công T sử dụng dao là hung khí nguy hiểm chém nhiều
nhát vào thành ngực, thắt lưng và vùng hông của bị hại Nguyễn Văn M3, Nguyễn Văn T2 là vùng trọng yếu trên cơ thể con người, trong đó có 1 nhát trúng vào thành ngực phải của bị hại M3 gây thủng màng phổi tràn khí màng phổi; Đứt bao gan, nhu mô gan hạ phân thùy VI, VII tràn máu ổ bụng, tuy nhiên hậu quả chết người không xảy ra do các bị hại được cấp cứu kịp thời. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” với 2 tình tiết định khung “Giết 02 người trở lên” và “Có tính chất côn đồ” được quy định tại điểm a, n khoản 1 Điều 123 BLHS. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm đã xử bị cáo về tội “ Giết người” theo quy dịnh tại điểm a, n là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm hình phạt của người bị hại Nguyễn Văn T2,
thấy rằng: Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, thể hiện tính côn đồ, hung hãn, xem thường pháp luật, đã dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm vào những vùng trọng yếu trên cơ thể bị hại, xâm phạm trực tiếp vào quyền được sống của con người nhằm tước đoạt tính mạng người khác một cách trái pháp luật. Khi xét xử sơ thẩm, Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Qua quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại và được bị hại bãi nại đề nghị giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo; Gia đình bị cáo có ông Ngoại được Nhà nước tặng Huân chương chống Mỹ cứu nước hạng 3. Hành vi giết người của bị cáo đã hoàn thành, tuy nhiên hậu quả chết người không xảy ra là ngoài ý muốn của bị cáo nên bị cáo phạm tội giết người thuộc trường hợp chưa đạt. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 57 BLHS. Trong giai đoạn phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên kháng cáo xin giảm hình phạt của người bị hại Nguyễn Văn T2 không được chấp nhận, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
Từ những vấn đề phân tích, lập luận trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy
rằng Toà án cấp sơ thẩm đã giải quyết vụ án có căn cứ và đúng pháp luật; kháng cáo xin giảm hình phạt cho bị cáo của bị hại Nguyễn Văn T2 không có căn cứ nên không chấp nhận, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Trương Công T, như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên toà.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự:
Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Nguyễn Văn T2, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ vào: Điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2
Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57; Điều 54 BLHS.
- Xử phạt: Bị cáo Trương Công T 09 (chín) năm tù,về tội “ Giết người”.
thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam 28/11/2019.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ Giám đốc kiểm tra I, TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND tỉnh Bình Định; - Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Bình Định; - Phòng HSNV - Công an tỉnh Bình Định; - Cơ quan CSTHAHS - Công an tỉnh Bình Định; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Định; - Cục THADS tỉnh Bình Định; - Trại tạm giam CA tỉnh Bình Định; - Bị cáo; Người tham gia tố tụng khác; - Lưu HSVA, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Cƣờng |