vanban.org

Bản án 82/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trƣơng Thị M đƣợc ly hôn với anh Phan Văn K (Giấy chứng nhận kết hôn số 24, quyển số 01/2014 ngày 12/5/2014 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh B cấp).

Về con chung: Buộc anh Phan Văn K giao con chung là cháu Phan Ngọc Bảo N, sinh ngày 06/7/2014 cho chị Trƣơng Thị M trực tiếp nuôi dƣỡng. Sau khi ly hôn, chị Trƣơng Thị M phải tạo điều kiện cho anh Phan Văn K có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh Trƣơng Văn K thực h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Trƣơng Thị M đƣợc ly hôn với anh Phan Văn K (Giấy chứng nhận kết hôn số 24, quyển số 01/2014 ngày 12/5/2014 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh B cấp).
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 82/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 22-10 -2021
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa

2. Ông Tô Văn Nhung

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Duy Long - Thƣ ký Tòa án nhân dân th ành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vƣơng - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 10 năm 2021, tại Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 191/2021/TLST-HNGĐ ngày 27/4/2021 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 95/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/9/2021, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Chị Trƣơng Thị M, sinh năm 1992; Địa chỉ thƣờng trú: Số 201B ấp B, xã T, huyện C, tỉnh B; địa chỉ tạm trú: 120/10 khu phố T, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Phan Văn K, sinh năm 1984; ; Địa chỉ thƣờng trú: Số 201B ấp B, xã T, huyện C, tỉnh B; địa chỉ tạm trú: 120/10 khu phố T, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 25/3/2021 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Trương Thị M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trƣơng Thị M và anh Phan Văn K tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2012, đến năm 2014 đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện C, tỉnh B theo Giấy chứng nhận kết hôn số 24, quyển số 01/2014 ngày 12/5/2014. Sau khi kết hôn vợ chồng sống và làm ăn tại Bình Dƣơng. Chị M làm nghề buôn bán còn anh K làm công nhân, thu nhập mỗi ngƣời trên 10.000.000 đồng/tháng. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhƣng cách đây 02 năm vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp nhau, anh K đi làm về thì thƣờng hay nằm chơi game, vợ chồng không nói chuyện với nhau, dần dần cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Hiện tại vợ chồng đang thuê nhà sống cùng với gia đình của chị ruột chị M, tuy nhiên vợ chồng không còn ngủ chung, không nói cuyện khoảng 01 năm nay. Chị M xác định tình cảm vợ chồng không còn nên không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân với anh K đƣợc nữa, vì vậy chị M xin đƣợc ly hôn với anh K.

Về con chung: Vợ chồng chị M và anh K có 01 con chung là cháu Phan Ngọc Bảo N, sinh ngày 06/7/2014. Khi ly hôn, chị M yêu cầu đƣợc nuôi con chung và yêu cầu anh K cấp dƣỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nghĩa vụ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Phan Văn K trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh K và chị M kết hôn năm 2012, đến năm 2014 đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện C, tỉnh B.

Quá trình chung sống vợ chồng cũng có hạnh phúc. Cuộc sống vợ chồng anh K nhận thấy cũng bình thƣờng, nhƣng anh cũng không biết lý do tại sao mà gần một năm nay vợ chồng anh không nói chuyện đƣợc với nhau, anh nói gì chị M cũng không trả lời; hàng ngày anh đi làm về cũng có phụ giúp vợ việc nhà, sau đó cũng có chơi game bằng điện thoại, còn chị M thì hay đi chơi với bạn bè nên vợ chồng không có thời gian nói chuyện với nhau. Từ Tết năm rồi vợ chồng có cãi nhau chuyện về quê do chị M lấy lý do dịch bệnh không chịu về quê. Từ đó mới xảy ra mâu thuẫn vợ chồng nhƣ hiện nay. Nay chị M đòi ly hôn thì anh K cũng đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Phan Ngọc Bảo N, sinh ngày 06/7/2014. Tuy nhiên, anh K không đồng ý giao con chung cho chị M nuôi vì lý do chị M làm nghề buôn bán tự do không thể đƣa đón con đi học đƣợc, còn anh K làm công nhân có thể sắp xếp thời gian để đƣa con đi học; đồng thời gia đình anh K chỉ mới có 01 đứa cháu nội là bé Phan Ngọc Bảo N nên có nguyện vọng muốn đƣợc nuôi con. Nếu anh K đƣợc nuôi con thì anh không yêu cầu chị M cấp dƣỡng nuôi con. Còn về mức cấp dƣỡng 3.000.000 đồng/tháng mà chị M yêu cầu thì anh đồng ý, nhƣng anh có nguyện vọng đƣợc trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, việc giải quyết vụ án đã đảm bảo tuân thủ đúng pháp luật về tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Chị M yêu cầu đƣợc ly hôn và anh K cũng đồng ý nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị M với anh K. Về con chung: xét cháu Phan Ngọc Bảo N là con gái nên cần sự chăm sóc, nuôi dƣỡng trực tiếp của mẹ, cháu cũng có nguyện vọng đƣợc ở với mẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung cho chị M trực tiếp nuôi dƣỡng. Về mức cấp dƣỡng mà chị M yêu cầu thì anh K cũng đồng ý nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung do các đƣơng sự không tranh chấp nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trƣơng Thị M và anh Phan Văn K là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh B, theo Giấy Chứng nhận kết hôn số 24, quyển số 01/2014 ngày 12/5/2014 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình tố tụng và tại phiên tòa chị M xác định vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn từ 02 năm trở lại đây, nguyên nhân là do vợ chồng thiếu sự quan tâm lẫn nhau cho dù chung sống cùng trong một nhà nhƣng việc ai nấy làm, không nói chuyện đƣợc với nhau trong một thời gian dài (gần 1 năm) dẫn tới tình cảm vợ chồng ngày càng nguội lạnh. Do vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên chị M yêu cầu đƣợc ly hôn. Anh K thì cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn, chỉ là không nói chuyện đƣợc với nhau, nhƣng chị M đã cƣơng quyết ly hôn thì anh K cũng đồng ý.

[2] Về con chung: Giữa chị Trƣơng Thị M và anh Phan Văn K có 01 con chung là cháu Phan Ngọc Bảo N, sinh ngày 06/7/2014. Cả chị M và anh K đều có yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung sau khi ly hôn. Tại Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng thỏa thuận người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con, trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.”. Chị M và anh K không thỏa thuận đƣợc về ngƣời trực tiếp nuôi con, Tòa án sẽ quyết định việc giao con chung cho ai trực tiếp nuôi dƣỡng trên cơ sở xem xét về mọi mặt và đảm bảo quyền lợi của con chƣa thành niên.

Theo xác nhận của cả chị M và anh K thì hiện tại vợ chồng đang ở nhà thuê cùng với gia đình của chị gái chị M (hai gia đình ở chung một căn nhà), chị M làm nghề buôn bán tự do (bán đồ ăn sáng), anh K làm công nhân. Do đó, xét điều kiện thực tế về thời gian, chỗ ở thì chị M có thời gian và điều kiện để trực tiếp nuôi dƣỡng, chăm sóc và đƣa đón con đi học hơn so với anh K. Đồng thời, cháu Phan Ngọc Bảo N còn nhỏ và là con gái nên rất cần sự gần gũi, chăm sóc, dạy dỗ của mẹ. Do đó, cần giao cháu N cho chị M trực tiếp nuôi dƣỡng sẽ đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu, bảo đảm quyền lợi của phụ nữ và trẻ em khi ly hôn. Anh K không đồng ý giao con chung cho chị M trực tiếp nuôi dƣỡng nhƣng anh không chứng minh đƣợc bản thân anh có điều kiện phù hợp hơn để trực tiếp nuôi dƣỡng con chung, trong khi đó anh K làm công nhân theo ca và cũng thƣờng xuyên tăng ca là không thuận lợi trong việc trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng con chung; hơn nữa một trong những lý do chính mà anh K yêu cầu đƣợc nuôi con mà anh trình bày tại phiên tòa là do gia đình anh chỉ mới có 01 đứa cháu duy nhất là con anh nên anh không đồng ý giao con chung cho chị M nuôi dƣỡng. Đây là một lý do không chính đáng, không có căn cứ để chấp nhận.

Về cấp dƣỡng nuôi con: Chị M yêu cầu anh K phải có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con với mức 3.000.000 đồng/tháng, anh K khai mức thu nhập của anh hàng tháng là trên 10.000.000 đồng và anh cũng chấp nhận mức cấp dƣỡng này, do đó mức cấp dƣỡng 3.000.000 đồng/tháng mà chị M yêu câu là phù hợp nên chấp nhận.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện về tranh chấp ly hôn, nuôi con của chị Trƣơng Thị M với anh Phan Văn K.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trƣơng Thị M chịu án phí ly hôn, anh Phan Văn K chịu án phí cấp dƣỡng theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điểm a Khoản 5, Điểm đ Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 4 Điều 147, Điều 92, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 và Điểm đ Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trƣơng Thị M đƣợc ly hôn với anh Phan Văn K (Giấy chứng nhận kết hôn số 24, quyển số 01/2014 ngày 12/5/2014 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh B cấp).

2. Về con chung: Buộc anh Phan Văn K giao con chung là cháu Phan Ngọc Bảo N, sinh ngày 06/7/2014 cho chị Trƣơng Thị M trực tiếp nuôi dƣỡng.

Sau khi ly hôn, chị Trƣơng Thị M phải tạo điều kiện cho anh Phan Văn K có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh Trƣơng Văn K thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dƣỡng.

3. Về nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con: Buộc anh Phan Văn K phải có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con 3.000.000 (ba triệu) đồng/tháng. Nghĩa vụ cấp dƣỡng đƣợc thực hiện từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Phan Ngọc Bảo N đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày chị Trƣơng Thị M có đơn yêu cầu thi hành án mà anh Phan Văn K không thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng thì hàng tháng anh Phan Văn K còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

4. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trƣơng Thị M phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phi ly hôn , đƣợ́

c khấu trƣ̀ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền ta ̣m ƣ́ ng án phí đã nộp theo biên lai số 0049538 ngày 27/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Anh Phan Văn K phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dƣỡng.

6. Nguyên đơn chị Trƣơng Thị M và bị đơn anh Phan Văn K có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ