vanban.org

Bản án 82/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dư Thị H: Cho chị Dư Thị H ly hôn với anh Leo Văn M.

Về con chung: Giao con chung là Leo Duy N, sinh ngày 05/6/2014 và Leo Thanh H, sinh ngày 31/01/2017 cho anh Leo Văn M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con chung trưởng tHnh đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định khác của Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dư Thị H và Leo Văn M Tc HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dư Thị H: Cho chị Dư Thị H ly hôn với anh Leo Văn M.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC NGẠN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82 /2021/HNGĐ-ST
Ngày: 26-11-2021
V/v: “Tranh chấp ly hôn, con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Khiết.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Đăng Thanh.

2. Ông Vũ Ngọc Côn.

Thư ký phiên toà: Ông Vũ Hữu Thơ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên tòa: Ông Đào Duy Đông - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 194/2021/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2021 về việc tranh chấp ly hôn, con chung.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2021/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2021,giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Dư Thị H, sinh năm: 1994. (Có mặt).

Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Bị đơn: Anh Leo Văn M, sinh năm: 1991. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Dư Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Leo Văn M kết hôn tự nguyện, không bị ai ép buộc và đăng ký kết hôn tại UBND xã Hồng Giang, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang vào ngày 29/8/2013. Thời gian ban đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau 01 năm thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh Leo Văn M tính ghen tuông, thường xuyên kiếm chuyện cãi vã và bạo lực gia đình. Tuy hai bên đã đã hòa giải, họ Hng hai bên cũng đã khuyên bảo nhưng không tHnh. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị H làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết chị được ly hôn anh Leo Văn M.

- Về con chung: Chị H và anh M có 03 con chung là Leo Duy N, sinh ngày 05/6/2014; Leo Thanh H, sinh ngày 31/01/2017 và Leo Đức H, sinh ngày 28/4/2019. Ly hôn, chị có nguyện vọng để anh Leo Văn M trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc 02 con chung là Leo Duy N, sinh ngày 05/6/2014 và Leo Thanh H, sinh ngày 31/01/2017; Chị Dư Thị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con chung là Leo Đức H, sinh ngày 28/4/2019 đến khi các con chung trưởng tHnh đủ 18 tuổi hoặc khi có Quyết định khác của Tòa án

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị và anh Leo Văn M tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị và anh Leo Văn M không có tài sản, công nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Leo Văn M xin vắng mặt do tình hình dịch Covid 19 diễn biến phức tạp và một số lý do khách quan nhưng đã có bản tự khai gửi Tòa án như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Dư Thị H kết hôn tự nguyện, không bị ai ép buộc và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hồng Giang, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang vào ngày 29/8/2013. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau 01 năm thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau nên có xảy cãi vã, anh đã khuyên bảo vợ anh là chị H nhưng chị không nghe. Chị H đã bỏ về nhà mẹ đẻ sống ly thân anh từ đầu năm 2021, anh M cũng đã gọi điện hỏi thăm và khuyên bảo chị về với gia đình nhưng chị không về. Hai bên đã đã hòa giải, họ Hng hai bên cũng đã khuyên bảo nhưng chị H vẫn không đồng ý về với gia đình. Nay chị H nộp đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn về tranh chấp ly hôn con chung tôi thấy giữa tôi và chị H vẫn còn tình cảm với nhau, mâu thuẫn giữa vợ chồng chưa đến mức trầm trọng nên tôi không đồng ý ly hôn với chị H.

- Về con chung: Anh M và chị Dư Thị H có 03 con chung là Leo Duy N, sinh ngày 05/6/2014; Leo Thanh H, sinh ngày 31/01/2017 và Leo Đức H, sinh ngày 28/4/2019. Tòa giải quyết ly hôn, anh M có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc 02 con chung là Leo Duy N, sinh ngày 05/6/2014 và Leo Thanh H, sinh ngày 31/01/2017; anh để chị Dư Thị H trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con chung là Leo Đức H, sinh ngày 28/4/2019 đến khi các con chung trưởng tHnh đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh và chị Dư Thị H tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Anh và chị Dư Thị H không có tài sản, công nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

Cháu Leo Duy N sinh ngày 05/6/2014 trình bày: Ttrường hợp bố mẹ cháu là Leo Văn M và Dư Thị H ly hôn thì cháu có nguyện vọng tiếp tục sống cùng bố là anh Leo Văn M.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Dư Thị H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, con chung với anh Leo Văn M. Về vấn cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, công nợ chung, chị Dư Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp Hnh đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chấp Hnh đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Đề nghị Hội đồng xét xử xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dư Thị H: Cho chị Dư Thị H ly hôn với anh Leo Văn M.

- Về con chung: Giao con chung là Leo Duy N, sinh ngày 05/6/2014 và Leo Thanh H, sinh ngày 31/01/2017 cho anh Leo Văn M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; Giao con chung là Leo Đức H, sinh ngày 28/4/2019 cho chị Dư Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con chung trưởng tHnh đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định khác của Tòa án.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

-Về án phí: Chị Dư Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Dư Thị H khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết ly hôn, con chung với anh Leo Văn M. Hiện nay anh Leo Văn M có hộ khẩu thường trú tại Thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ quy định tại quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng:

Bị đơn anh Leo Văn M đã có lời khai rõ ràng và có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Dư Thị H và anh Leo Văn M kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu trước khi kết hôn và đăng ký kết hôn tại UBND xã Hồng Giang, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 29/8/2013. Do vậy xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

Xác định chị Dư Thị H và anh Leo Văn M trong quá trình chung sống đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh Leo Văn M có tính ghen tuông, thường xuyên kiếm chuyện cãi vã và bạo lực gia đình, chị H xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, chị vẫn kiên quyết đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Leo Văn M. Tuy anh Mững có quan điểm anh và chị H có phát sinh mâu thuẫn nhưng không lớn, anh vẫn còn tình cảm với chị H nên không nhất trí ly hôn với chị H. Qua quá trình tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử thấy tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh M có mâu thuẫn, đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị H kiên quyết đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Leo Văn M. Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Dư Thị H, cho chị Dư Thị H được ly hôn với anh Leo Văn M là có căn cứ.

Về con chung: Chị Dư Thị H và anh Leo Văn M có 03 con chung là Leo Duy N, sinh ngày 05/6/2014; Leo Thanh H, sinh ngày 31/01/2017 và Leo Đức H, sinh ngày 28/4/2019. Khi ly hôn chị H anh M cùng thỏa thuận tống nhất có, anh M trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con chung là Leo Duy N, sinh ngày 05/6/2014 và Leo Thanh H, sinh ngày 31/01/2017; Chị Dư Thị H trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con chung là Leo Đức H, sinh ngày 28/4/2019 đến khi các con chung trưởng tHnh đủ 18 tuổi. Xét nguyện vọng được nuôi con chung của anh M và chị H, Hội đồng xét xử thấy các anh chị đều có chỗ ở, công việc và thu nhập ổn định, đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung phát triển đảm bảo. Hiện nay các con chung sống cùng với anh M và chị H, các cháu đều phát triển khỏe mạnh, không bệnh tật gì. Hơn nữa cháu Leo Duy N cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng anh Leo Văn M. Do vậy, cần giao con chung là Leo Duy N, sinh ngày 05/6/2014 và Leo Thanh H, sinh ngày 31/01/2017 cho anh Leo Văn M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; Giao con chung là Leo Đức H, sinh ngày 28/4/2019 cho chị Dư Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con chung trưởng tHnh đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định khác của Tòa án là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Việc cấp dưỡng nuôi con chung do chị Dư Thị H, anh Leo Văn M đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, công nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về án phí: Nguyên đơn chị Dư Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dư Thị H: Cho chị Dư Thị H ly hôn với anh Leo Văn M.

2. Về con chung:

Giao con chung là Leo Duy N, sinh ngày 05/6/2014 và Leo Thanh H, sinh ngày 31/01/2017 cho anh Leo Văn M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con chung trưởng tHnh đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định khác của Tòa án.

Giao con chung là Leo Đức H, sinh ngày 28/4/2019 cho chị Dư Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng tHnh đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định khác của Tòa án.

3. Về án phí: Chị Dư Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận chị Dư Thị H đã nộp số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại Chi cục Thi Hnh án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang theo Biên lai thu số: 0010353 ngày 01 tháng 10 năm 2021. Khoản tiền này được chuyển tHnh án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Cỡ chữ