vanban.org

Bản án 82/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Đông Anh, TP. Hà Nội Tuyên án 18/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phùng Duy A phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt: Phùng Duy A 30 ( Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/3/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phùng Duy A phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG ANH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 82/2020/HSST
Ngày: 18 - 06 - 2020

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Lương Vân

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Hữu Đệ

2/ Bà Hoàng Thị Lợi.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hường – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Đông Anh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Doãn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 18/06/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 81/2020/HSST ngày 27/05/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2020/QĐXXST - HS ngày 03 tháng 06 năm 2020 đối với bị cáo: Họ và tên: Phùng Duy A

Sinh năm: 1973

Tên gọi khác: Không Nơi cư trú: Thôn NK, xã NK, huyện ĐA, Tp Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không Nghề nghiệp: Lao động tự do

Văn hóa: 12/12 Con ông: Phùng Duy H

Sinh năm: 1938

NN: Hưu trí Con bà: Nguyễn Thị M

Sinh năm: 1946

NN: Tự do Vợ: Nguyễn Thị P

Sinh năm: 1972

NN: Tự do Bị can có 03 con sinh lớn sinh năm 1996 nhỏ sinh năm 2011. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: - Ngày 15/4/2004, Ủy ban nhân dân huyện Đông Anh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung giáo dục lao động xã hội số VI, thời hạn 24 tháng.

- Ngày 02/4/2007, Ủy ban nhân dân huyện Đông Anh ra Quyết định về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm chữa bệnh GD-LĐXH số VI, thời hạn 24 tháng.

Bị can Phùng Duy A bị bắt tạm giam từ ngày 13/3/2020, bị tạm giam từ ngày 13/3/2019 đến nay tại Trạm tạm giam số 1, Công an thành phố Hà Nội. Số giam: 1975V1/B02- Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Chị Trần Thị Minh H1, sinh năm 1999

Địa chỉ: Khu 7 TL, TL, ĐA, Hà Nội( Vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1972

Địa chỉ: Xóm 3, NK, NK, ĐA, Hà Nội ( Có mặt).

2/ Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1949

Địa chỉ: Khu 1 ngõ 4 tổ 19 Thị trấn ĐA, ĐA, Hà Nội ( Có mặt).

3/ Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1988

Địa chỉ: LN, TD, ĐA, Hà Nội ( Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng công khai tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 22/01/2020, Công an huyện Đông Anh nhận được đơn trình báo của chị Trần Thị Minh H1 (Sinh năm: 1999; HKTT: Khu 7, TL, TL, ĐA, Hà Nội) về việc: Khoảng 11h15’ ngày 22/01/2020, chị H1 bị một đối tượng nam giới đi xe máy SH cướp giật chiếc điện thoại Iphone XSMAX gắn thẻ sim số xxxxxxxxxx của chị H1 tại cổng làng phía Nam thôn LN, xã TD, huyện ĐA, thành phố Hà Nội. Chị H1 đề nghị cơ quan công an làm rõ và xử lý đối tượng cướp giật chiếc điện thoại của chị theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra xác định:

Phùng Duy A (Sinh năm: 1973; HKTT: Xóm 2, thôn NK, xã NK, ĐA, Hà Nội) nghiện ma túy, hàng ngày phải đến Trung tâm y tế quận Nam Từ Liêm, Hà Nội để uống thuốc Methadone (thuốc cai nghiện ma túy). Khoảng 10h00 ngày 22/01/2020, Duy A điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda SH sơn màu đen, BKS: 29S1- 861.69 đến Trung tâm y tế quận Nam Từ Liêm uống thuốc Methadone. Sau đó, Duy A điều khiển xe máy đi về nhà, khi đi đến đoạn đường quốc lộ 23B đoạn trước cổng làng phía Nam của thôn LN, TD, ĐA, Hà Nội (giáp với đường 23B), Duy A nhìn thấy chị Trần Thị Minh H1 đang dừng xe, ngồi trên xe máy chờ bạn và sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMAX, Duy A nảy sinh ý định cướp giật tài sản. Duy A điều khiển xe máy áp sát bên trái xe máy của chị H1, dùng tay phải giật chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone XSMAX của chị H1 làm điện thoại rơi xuống chỗ để chân phía bên phải của xe máy BKS: 29S1- 861.69, Duy A dùng chân phải giữ chiếc điện thoại rồi nhanh chóng phóng xe bỏ chạy vào thôn Lương Nỗ, đi ra đường Quốc lộ 3 để tẩu thoát. Sau đó, Duy A điều khiển xe máy chạy vào thôn Nguyên Khê đến đoạn giữa làng thì thấy một mảnh đất trống nên đã dừng xe và cất giấu chiếc điện thoại vừa cướp giật được của chị H1 vào đống cát ở khu đất trống rồi đi về nhà (BL: 30-50; 58-90). Sau khi bị cướp giật điện thoại, chị H1 điều khiển xe máy đuổi theo Phùng Duy A đến đường Quốc lộ 3 thì chị H1 bị mất dấu nên không đuổi theo nữa, chị H1 mượn điện thoại của người phụ nữ đi ở ven đường Quốc lộ 3 (không rõ nhân thân lai lịch) và bật chế độ báo mất, tìm điện thoại. Do điện thoại không tắt nguồn nên trên màn hình điện thoại của chị H1 hiển thị nội dung điện thoại mất, liên hệ với số xxxxxxxxxx để chị H1 xin lại.

Khoảng 11h00 ngày 23/01/2020, Duy A đến vị trí cất giấu chiếc điện thoại và nhìn thấy nội dung báo mất máy trên màn hình và số điện thoại liên hệ. Duy A liền tắt máy, tháo sim điện thoại vứt bỏ đi. Khoảng 18h30’ cùng ngày, Duy A thấy hối hận về hành vi của mình nên đã sử dụng điện thoại OPPO lắp sim điện thoại số xxxxxxxxxx gọi đến số điện thoại xxxxxxxxxx gặp chị H1 và nói dối là em trai bị tâm thần cướp giật chiếc điện thoại của chị H1 và hẹn gặp chị H1 để trả điện thoại. Khoảng 18h30 ngày 23/01/2020, Duy A thuê xe ôm chở đến nhà ở của chị H1 ở TL, TL, ĐA, Hà Nội gặp chị H1 cùng ông Trần Văn H2 (Sinh năm: 1968-là bố đẻ chị H1). Tại đây, Duy A hẹn chị H1 sáng ngày 24/01/2020 sẽ mang trả điện thoại. Khoảng 10h30 ngày 24/01/2020, Duy A thuê xe ôm đi đến đầu ngõ nhà chị H1 gặp và trả lại cho chị H1 chiếc điện thoại Iphone XSMAX (BL 34-35, 38-39; 42-46; 46, 48-50).

Ngày 06/02/2020, Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đông Anh kết luận: 01 chiếc điện thoại Iphone XSMAX trị giá: 12.000.000 đồng; 01 chiếc sim điện thoại số: xxxxxxxxxx trị giá: 50.000 đồng. Tổng giá trị tài sản của chị H1 bị chiếm đoạt là 12.050.000 đồng.

Vật chứng tạm giữ gồm:

- Của Phùng Duy A: 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda, BKS: 29S1 – 681.69, số khung: 7309GY021786; số máy JF 73E F73E0021848 và 01 (một) chiếc điện thoại Masstel màu đỏ, bên trong lắp sim điện thoại số xxxxxxxxxx.

- Của chị Trần Thị Minh H1: 01 (một) phiếu bảo hành của cửa hàng điện thoại Điện thoại xanh đối với chiếc điện thoại Iphone XSMAX của chị H1.

- Của chị Nguyễn Thị P (Sinh năm: 1972; HKTT: Xóm 3, NK, NK, ĐA, Hà Nội) là vợ Phùng Duy A: 01 giấy đăng ký xe máy mang tên Nguyễn Thị P; BKS 29S1-681.69, số khung: 7309GY021786; số máy JF 73E F73E0021848.

- Của chị Nguyễn Thị X (Sinh năm: 1988; HKTT: LN, TD, ĐA, Hà Nội): 01 USB bên trong chứa hình ảnh một người đàn ông phóng xe tẩu thoát và chị H1 đi xe máy đuổi theo ngày 22/01/2020 thu giữ tại camera của nhà chị X.

Tại cơ quan điều tra, Phùng Duy A khai nhận hành vi phạm tội, phù hợp với tài liệu điều tra thu thập được. Bản thân Phùng Duy A khai bị bệnh lao phổi, nhưng không cung cấp được các giấy tờ, bệnh án liên quan. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Trung tâm y tế quận Nam Từ Liêm và trung tâm y tế huyện Đông Anh xác định không có bệnh nhân tên Phùng Duy A khám chữa bệnh lao phổi tại trung tâm.

Đối với chiếc sim điện thoại xxxxxxxxxx của chị H1 lắp trong chiếc điện thoại Iphone XSMAX bị Duy A vứt bỏ. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được vật chứng.

Đối với chiếc điện thoại OPPO Phùng Duy A sử dụng để gọi cho chị H1 để trao đổi việc trả điện thoại ngày 23 và 24/01/2020, Duy A khai là đã làm mất ngày 26/01/2020, không rõ mất ở đâu.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH, BKS 29S1-681.69, đăng ký xe mang tên chị Nguyễn Thị P. Kết quả xác minh xác định: Chiếc xe máy là của chị P mua từ tháng 02/2017 với giá 80.000.000 đồng tại cửa hàng Honda Thắng Lợi ở Đông Anh để làm phương tiện đi lại. Nguồn gốc số tiền mua xe là do mẹ đẻ chị P là bà Nguyễn Thị T (Sinh năm: 1949: HKTT: Tổ 19, thị trấn ĐA, ĐA, Hà Nội) cho chị P. Sáng ngày 22/01/2020, Phùng Duy A điều khiển xe đi uống thuốc Methadone, chị P không biết việc Phùng Duy A sử dụng chiếc xe trên để đi cướp giật tài sản ngày 22/01/2020. Đối với chiếc điện thoại di động Masstel màu đỏ bên trong lắp sim điện thoại xxxxxxxxxx là tài sản của Phùng Duy A sử dụng liên lạc hàng ngày. Toàn bộ số vật chứng này chuyển Tòa án nhân dân huyện Đông Anh giải quyết theo thẩm quyền.

Đối với chiếc USB tạm giữ của chị X lưu giữ hình ảnh liên quan đến hành vi phạm tội của Phùng Duy A, cơ quan điều tra chuyển theo hồ sơ vụ án.

Về phần dân sự: Chị Trần Thị Minh H1 đã nhận lại chiếc điện thoại di động Iphone XSMAX, sau khi nhận lại tài sản chị H1 không đề nghị bồi thường về phần dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt đối với Phùng Duy A.

Tại bản Cáo trạng số 77/CT-VKS-ĐA ngày 18/05/2020 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh đã truy tố bị cáo Phùng Duy A về tội Cướp giật tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như Cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểmb,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt:

Phùng Duy A: Từ 36 tháng đến 42 tháng tù.

Về phần dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho Duy A.

Về phần vật chứng:

Tiếp tục lưu giữ 01 USB theo hồ sơ vụ án; Trả lại cho chị P 01 xe máy Honda SH BKS: 29S1 – 681.69; trả lại cho bị cáo Phùng Duy A 01 chiếc điện thoại Masstel bên trong lắp sim điện thoại số xxxxxxxxxx.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 11h15’ ngày 22/01/2020, tại cổng làng phía Nam thôn LN, xã TD, huyện ĐA, thành phố Hà Nội, Phùng Duy A điều khiển xe máy Honda SH, BKS: 29S1- 681.69 (thủ đoạn nguy hiểm), thực hiện hành vi cướp giật chiếc điện thoại di động Iphone XSMAX (bên trong lắp sim số thuê bao xxxxxxxxxx) trị giá 12.050.000 đồng của chị Trần Thị Minh H1 rồi phóng xe tẩu thoát.

Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, các tài liệu điều tra vụ án và kết quả tranh tụng công khai tại phiên toà. Do đó, đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Phùng Duy A phạm tội Cướp giật tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ xác định: Bị cáo chưa có tiến án, tiền sự tuy nhiên Ngày 15/4/2004, Ủy ban nhân dân huyện Đông Anh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung giáo dục lao động xã hội số VI, thời hạn 24 tháng. Ngày 02/4/2007, Ủy ban nhân dân huyện Đông Anh ra Quyết định về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm chữa bệnh GD-LĐXH số VI, thời hạn 24 tháng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tài sản công dân nên cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tuy nhiên bị cáo Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và chủ động lên hệ bị hại khắc phục hậu quả và bị hại có đơn đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt tù dưới khung hình phạt theo điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không phạt tiền đối với bị cáo.

Về phần dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Tòa án không giải quyết.

Về vật chứng vụ án: Đối với chiếc USB tạm giữ của chị X lưu giữ hình ảnh liên quan đến hành vi phạm tội của Phùng Duy A, chị X từ chối nhận lại, là vật phục vụ công tác điều tra xét xử nên lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

01 xe máy Honda SH BKS: 29S1 – 681.69 đăng ký xe mang tên chị Nguyễn Thị P chị P không biết Duy A làm phương tiện phạm tội, là phương tiện kiếm sống của chị P nên trả lại chiếc xe máy trên cho chị P;

01 chiếc điện thoại Masstel bên trong lắp sim điện thoại số xxxxxxxxxx tài sản của Phùng Duy A sử dụng liên lạc hàng ngày không phải phương tiện phạm tội nên trả lại cho Phùng Duy A.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Phùng Duy A phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51,Khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Phùng Duy A 30 ( Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/3/2020.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về phần dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Tòa án không giải quyết.

Về vật chứng vụ án: 01 chiếc USB tạm giữ của chị X lưu trữ hình ảnh liên quan đến hành vi phạm tội của Phùng Duy A lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

Trả lại 01 xe máy Honda SH BKS: 29S1 – 681.69 số khung: 7309GY021786; số máy JF 73E F73E002184 cho chị Nguyễn Thị P.

Trả lại 01 chiếc điện thoại Masstel bên trong lắp sim điện thoại số xxxxxxxxxx cho bị cáo Phùng Duy A theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 20/05/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.

Bị cáo Phùng Duy A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo ,người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ hoặc niêm yết bản án./.

Cỡ chữ