vanban.org

Bản án 82/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 24/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn S, Võ Văn V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 23/8/2020. Xử phạt bị cáo Võ Văn V 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 23/8/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn S + Võ Văn V - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn S, Võ Văn V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 82/2020/HS-ST
Ngày: 24-11-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thiên Di.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lâm Minh Lâm;

2. Bà Hoàng Thị Thu Huyền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài Thanh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Xuân Hồng Vinh, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 85/2020/TLST–HS ngày 21 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2020 đối với các bị cáo:

Nguyễn Văn S, sinh năm 1991 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1969 và bà Phan Thị Mai T, sinh năm 1969; có vợ không rõ họ tên (đã ly hôn) và 01 người con; tiền án: Không có; tiền sự: Quyết định xử phạt hành chính số: 03/QĐ-XPHC ngày 04/5/2020 của Công an xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 750.000 đồng, đã chấp hành việc nộp phạt ngày 05/5/2020; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/8/2020, chuyển tạm giam từ ngày 26/8/2020 đến nay, “có mặt”.

Võ Văn V, sinh năm 1998 tại tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Đô Q, sinh năm 1976 và bà Say S, sinh năm 1976; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/8/2020, chuyển tạm giam từ ngày 26/8/2020 đến nay, “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 18 giờ 00 phút ngày 23/8/2020, tại phòng số 08 nhà trọ H thuộc khu phố 3, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tây Ninh, Công an huyện C bắt quả tang bị cáo Võ Văn V đang bán trái phép 01 đoạn ống hút màu trắng được hàn kín, bên trong có chứa các tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy cho Nguyễn Trần Chánh T với số tiền 200.000 đồng. Tang vật thu giữ: Thu giữ trong lòng bàn tay phải của anh T 01 đoạn ống hút màu trắng được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa các tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu 01); thu trên nền gạch tại vị trí bắt quả tang 01 bịch nylon màu trắng có một đầu kéo xếp, bên trong có chứa các tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu 02) cùng một số đồ vật có liên quan. Khi bắt quả tang, bị cáo V khai nhận số ma túy có được là của bị cáo Nguyễn Văn S nhờ bị cáo V đi bán cho anh T. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tây Ninh thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với bị cáo Nguyễn Văn S về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Quá trình điều tra xác định: Ngày 22/8/2020, bị cáo Nguyễn Văn S mua 01 bịch ma túy với số tiền 1.200.000 đồng của người phụ nữ tên T (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) ở khu vực bến xe An Sương, Thành phố Hồ Chí Minh với mục đích sử dụng và phân nhỏ bán lại cho người nghiện. Khoảng 17 giờ 35 phút ngày 23/8/2020, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên anh Nguyễn Trần Chánh T đến phòng số 8 nhà trọ H để gặp chị Nguyễn Thị Thu H, nhờ chị H điện thoại cho bị cáo S hỏi mua ma túy với số tiền 200.000 đồng thì bị cáo S đồng ý bán và hẹn giao tại phòng của chị H. Sau đó, bị cáo S kêu bị cáo V cầm 01 đoạn ống hút chứa ma túy giao cho anh T và nhận tiền thì bị cáo V đồng ý. Đến 18 giờ 00 phút cùng ngày, khi bị cáo V đang giao ma túy cho anh T và nhận tiền thì bị công an bắt quả tang.

Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn chứng minh được ngoài lần bị bắt quả tang, bị cáo S và bị cáo V còn nhiều lần bán trái phép chất ma túy cho người khác, cụ thể như sau:

- Khoảng 23 giờ ngày 22/8/2020, bán ma túy cho anh Nguyễn Văn T với số tiền 200.000 đồng, tại phòng số 6, nhà trọ H.

- Khoảng 16 giờ ngày 23/8/2020, bị cáo S trực tiếp bán ma túy cho chị Nguyễn Thị Thu H với số tiền 300.00 đồng, giao trước phòng trọ của bị cáo V.

Quá trình điều tra không xác định được số tiền thu lợi bất chính, do các bị cáo sử dụng tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng.

Tại Bản kết luận giám định số: 1273 ngày 26/8/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận:

- Mẫu giám định 01 là loại Methamphetamine, khối lượng 0,0171 gam.

- Mẫu giám định 02 là loại Methamphetamine, khối lượng 0,0443 gam.

Bản cáo trạng số: 90/CT-VKSND-CT ngày 12 tháng 10 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh truy tố các bị cáo Nguyễn Văn S, Võ Văn V về tội "Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn S, Võ Văn V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 251; Điều 38; các điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo S mức án từ 07 năm tù đến 08 năm tù; xử phạt bị cáo V mức án từ 07 năm tù đến 08 năm tù. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết vật chứng, án phí.

Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận về tội danh và mức hình phạt.

Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: 18 giờ 00 phút ngày 23/8/2020, tại phòng số 08 nhà trọ H thuộc khu phố 3, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tây Ninh, bị cáo V bán trái phép ma túy cho anh Nguyễn Trần Chánh T, với số tiền 200.000 đồng. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn chứng minh được ngoài lần bị bắt quả tang, bị cáo Nguyễn Văn S và Võ Văn V còn nhiều lần bán trái phép chất ma túy cho người khác, cụ thể như sau: Ngày 22/8/2020 bán ma túy cho anh Nguyễn Văn T với số tiền 200.000 đồng; ngày 23/8/2020, bán ma túy cho chị Nguyễn Thị Thu H với số tiền 300.00 đồng. Do đó, hành vi của các bị cáo S, V đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh truy tố các bị cáo về tội phạm nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, trực tiếp là hoạt động mua bán chất ma túy; đồng thời xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, tính mạng, sức khỏe của người sử dụng và sự phát triển bình thường của nòi giống dân tộc, tạo dư luận xấu trong nhân dân và có thể làm phát sinh một số loại tội phạm khác. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được chất ma túy rất độc hại, cấm mua bán trái phép, nhưng vì mục đích lợi nhuận mà các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm, tách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, phòng ngừa các loại tội phạm về ma túy và cũng có điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt có xem xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo S có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thể hiện nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo tự khai nhận lần phạm tội trước và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù, các bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại Điều 35; khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

- Đối với 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, màu trắng, số IMEI 1: 354619073820853/01, số IMEI 2: 354620073820851/01, đã qua sử dụng là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

- Đối với số tiền 1.100.000 đồng, trong đó có 200.000 đồng thu giữ của bị cáo V, 700.000 đồng thu giữ của bị cáo S là tiền bán ma túy mà có cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Đối với số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo S; không liên quan đến tội phạm cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Đối với 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn S không liên quan đến tội phạm cần trả bị cáo S.

- Đối với các dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 03 (ba) đoạn thủy tinh dạng phiễu, đã qua sử dụng; 04 (bốn) bịch nylon được hàn kín, có một đầu kéo xếp viền đỏ (rỗng bên trong); 03 (ba) đoạn ống hút; 01 (một) bật lửa, màu vàng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với người tên Ty không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể là người bán ma túy cho các bị cáo, khi nào làm việc được xử lý sau.

Đối với anh Nguyễn Văn T, anh Nguyễn Trần Chánh T, chị Nguyễn Thị Thu H đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện C đã ra Quyết định xử phạt hành chính.

Về án phí: Các bị cáo S, V mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn S, Võ Văn V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; các điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 23/8/2020.

Xử phạt bị cáo Võ Văn V 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 23/8/2020.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 900.000 (chín trăm nghìn) đồng; 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, màu trắng, số IMEI 1: 354619073820853/01, số IMEI 2: 354620073820851/01;.

- Tạm giữ của bị cáo S số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại cho bị cáo S 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn S.

- Tịch thu tiêu hủy 03 (ba) đoạn thủy tinh dạng phiễu, đã qua sử dụng; 04 (bốn) bịch nylon được hàn kín, có một đầu kéo xếp viền đỏ (rỗng bên trong); 03 (ba) đoạn ống hút; 01 (một) bật lửa, màu vàng.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo Nguyễn Văn S, Võ Văn V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ