vanban.org

Bản án 82/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 23/06/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/06/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của ị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H1, Võ Văn T.

Sửa bản án sơ thẩm số 01/2020/HS-ST ngày 14/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh về phần hình phạt đối với các ị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H1, Võ Văn T. Không chấp nhận nội dung kháng cáo của các ị cáo Đinh Thị Á, Trần Thị Thanh T, Đậu Xuân H, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Q, Nguyễn Thị C… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị H và đồng phạm phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” - phạm tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của ị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H1, Võ Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 244 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2020/HS-PT
Ngày: 23 - 6 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hiền

Các Thẩm phán: Bà Trương Thị Lệ Thu

Ông Bùi Đình Thông

Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Minh Hiền, Hoàng Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Phiệt - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 33/2020/TLPT-HS ngày 24/02/2020 đối với ị cáo Nguyễn Thị H và đồng phạm phạm tội “Vi phạm quy định về ảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” do có kháng cáo của các ị cáo đối với ản án hình sự sơ thẩm số: 01/2020/HS-ST ngày 14/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

Bị cáo có kháng cáo

1. Họ và tên: Nguyễn Thị H;Sinh ngày: 26 tháng 01 năm 1974; tại xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn C, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn G và bà Trần Thị T (Đã mất); chồng: Trần Trung T; con 02 đứa (đầu sinh năm 1994, út sinh năm 1997); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo ị tạm giữ từ ngày 17/01/2019, đến ngày 12/8/2019, được thay thế iện pháp ngăn chặn cho gia đình ảo lĩnh. Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Thị H1; tên gọi khác: Nguyễn Thị Thúy H1; Sinh ngày 16 tháng 12 năm 1973 tại thị trấn T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Khối phố 4 (nay là khối phố 2), thị trấn T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con Nguyễn Hữu T (Đã mất) và Trần Thị X(Đã mất); chồng: Phan Xuân D; con 03 đứa đầu sinh năm 1995, út 2011; tiền án, tiền sự: Không; ị cáo ị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2019, đến ngày 12/8/2019, được thay thế iện pháp ngăn chặn cho gia đình ảo lĩnh. Có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Võ Văn T; Sinh ngày 14 tháng 4 năm 1971 tại thị trấn T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Khối phố 5, thị trấn T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn T (Đã mất) và bà Đặng Thị H; vợ: Trần Thị Tố H; con: 03 người con (đứa đầu sinh năm 1995, đứa út sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: Không; ị cáo ị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/01/2019, đến ngày 12/8/2019, được thay thế iện pháp ngăn chặn cho gia đình ảo lĩnh. Có mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên: Trần Thị Thanh T; Sinh ngày 02 tháng 4 năm 1973 tại xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn K, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình X (Đã mất) và bà Nguyễn Thị M (Đã mất); chồng: Nguyễn Tiến C; con 03 đứa, đầu sinh năm 2000, út 2010; tiền án, tiền sự: Không; ị cáo ị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2019, đến ngày 12/8/2019, được thay thế iện pháp ngăn chặn cho gia đình ảo lĩnh. Có mặt tại phiên tòa.

5. Họ và tên: Đinh Thị Á;Sinh ngày 10 tháng 02 năm 1964 tại xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn Hà Trai, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn Đ (Đinh Xuân Đông) (Đã mất) và bà Nguyễn Thị T; Chồng: Lê Ngọc Q (Đã mất); Con: 02 đứa, đầu sinh năm 1983, út 1986; tiền án, tiền sự: Không; ị cáo ị ắt tạm giam từ ngày 23/4/2019, đến ngày 12/8/2019, được thay thế iện pháp ngăn chặn cho gia đình ảo lĩnh. Có mặt tại phiên tòa.

6. Họ và tên:Đậu Xuân H; Sinh ngày 03 tháng 01 năm 1977 tại xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn K, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đậu Xuân Hợi (Đã mất) và bà Cao Thị T; vợ: Nguyễn Thị H; Con: 03 đứa, đầu sinh năm 2011, út 2015; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2015, Đậu Xuân H ị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tuyên phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng” (Bản án số 24/2015/HSST ngày 14/8/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh). Bị cáo đã chấp hành xong thời gian thử thách từ ngày 14/8/2017, đã nộp án phí HSST vào ngày 28/7/2017; ị cáo ị tạm giữ từ ngày 17/01/2019, đến ngày 24/01/2019 ị khởi tố ị can và áp dụng iện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.

7. Họ và tên:Nguyễn Thị C;Sinh ngày 08 tháng 7 năm 1972 tại xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn Hà Chua, xã Sơn T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh Ngọc (Đã mất) và bà Đinh Thị T; chồng: Nguyễn Ánh Cường; con 02 đứa, đầu sinh năm 2004, út 2006; tiền án, tiền sự: Không; ị cáo ị ị khởi tố ị can và áp dụng iện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 20/9/2019. Có mặt tại phiên tòa.

8. Họ và tên:Nguyễn Thị Quyên; Sinh ngày 06 tháng 6 năm 1970 tại xã Sơn T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn Hà Chua, xã Sơn T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh N (Đã mất) và bà Đinh Thị T; chồng: Phạm Văn B; Con: 02 đứa, đầu sinh năm 2003, út 2004; tiền án, tiền sự: Không; ị cáo ị tạm giữ từ ngày 17/01/2019, đến ngày 24/01/2019 ị khởi tố ị can và áp dụng iện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.

9. Họ và tên:Nguyễn Thị C; Sinh ngày 10 tháng 11 năm 1977 tại xã Sơn T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn Hà Chua, xã Sơn T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh N (Đã mất) và bà Đinh Thị T; chồng: Lê Khánh Á; Con: 02 đứa, đầu sinh năm 2001, út 2005; tiền án, tiền sự: Không; ị cáo ị tạm giữ từ ngày 17/01/2019, đến ngày 24/01/2019 ị khởi tố ị can và áp dụng iện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.

10. Họ và tên:Nguyễn Hữu C; Sinh ngày 03 tháng 02 năm 1975 tại xã Sơn T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn Hà Chua, xã Sơn T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh N (Đã mất) và bà Đinh Thị T; Vợ: Lê Thị Hồng M; Con: 02 đứa, đầu sinh năm 2014, út 2016; tiền án, tiền sự: Không; ị cáo ị tạm giữ từ ngày 17/01/2019, đến ngày 24/01/2019 ị khởi tố ị can và áp dụng iện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.

11. Họ và tên:Nguyễn Ánh S; Sinh ngày 22 tháng 01 năm 1994 tại xã Sơn T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn K, xã Sơn T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh S và bà Lê Thị N; Vợ: Trần Thị Mỹ H; Con: 03 đứa, đầu sinh năm 2014, út 2020; tiền án, tiền sự: Không; ị cáo ị tạm giữ từ ngày 17/01/2019, đến ngày 24/01/2019 ị khởi tố ị can và áp dụng iện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.

12. Họ và tên:Nguyễn Công D; Sinh ngày 06 tháng 6 năm 1974tại xã Sơn T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn Khí Tượng, xã Sơn T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Công H (Đã mất)và bàĐoàn Thị N; Vợ: Lê Thị S; Con: 02 đứa, đầu sinh năm 2005, út 2011; tiền án, tiền sự: Không; ị cáo ị tạm giữ từ ngày 17/01/2019, đến ngày 24/01/2019 ị khởi tố ị can và áp dụng iện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị H:

1. Ông Nguyễn Cao Trí. Sinh năm: 1976. Địa chỉ: Văn phòng Luật sư Cao Trí thuộc đoàn Luật sư tỉnh Nghệ An, vắng mặt.

2. Ông Đặng Văn Sơn, sinh năm: 1970. Địa chỉ: Văn phòng Luật sư Đặng Sơn và cộng sự, đoàn luật sư thành phố Hà Nội; số: 31, ngõ 192, Tam Trinh, Yên Sở, Hoàng Mai, Hà Nội, vắng mặt.

3. Ông Hoàng Văn Tuynh, sinh năm: 1970. Địa chỉ: Văn phòng Luật sư Đặng Sơn và cộng sự, đoàn luật sư thành phố Hà Nội; số: 31, ngõ 192, Tam Trinh, Yên Sở, Hoàng Mai, Hà Nội, vắng mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Công D: Ông Trần Thanh Minh. Sinh năm: 1985. Là trợ giúp viên pháp lý thuộc trung T trợ giúp Pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo:

1. Chị Võ Thị H; Sinh năm: 1977. Nơi cư trú: Số nhà 01, ngõ 32 đường Nguyễn Tuấn Thiện, thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.

2. Chị Hoàng Thị H; (tên thường gọi: Hoa Lý). Nơi cư trú: Khu phố Vĩnh Long 1, thị trấn Bến Sung, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.

3. Anh Nguyễn Kim H. Sinh năm: 1986.Nơi cư trú: Số nhà 250, đường Việt – Lào, thị trấn T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.

4. Anh Nguyễn Thanh V.Sinh năm: 1970. Nơi cư trú: Thôn Công Thương, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.

5. Chị Lê Thị H.Sinh năm: 1986.Nơi cư trú: Khu Phố Vĩnh Long 1, thị trấn Bến Sung, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.

6. Anh Trần Trung T;Sinh ngày: 06/6/1971. Nơi cư trú: Thôn Công Thương, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.

7. Chị Nguyễn Thị H. Sinh năm: 1979. Nơi cư trú: Khối 2, thị trấn T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.

8. Chị Trần Thị Tố H. Sinh năm: 1976. Nơi cư trú: Số nhà 252, đường Việt – Lào, thị trấn T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt.

Những người khác trong vụ án không liên quan đến việc kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn iến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 11/01/2019, Nguyễn Thị H mua lô hàng 215 cá thể Tê tê ( ao gồm: 144 cá thể có sức khỏe ình thường, 23 cá thể có sức khỏe yếu và 48 cá thể đã chết là loài Tê tê java tên khoa học là Manis Javanica. Loài Tê tê java Manis Javanica thuộc Phụ lục I, Danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm và được ưu tiên ảo vệ (Ban hành kèm theo Nghị định 160/2013/NĐ-CP, ngày 12/11/2013 của Chính phủ); Loài Tê tê java Manis Javanica thuộc Phụ lục I, Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã quy định trong các Phụ lục của Công ước về uôn án quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (Ban hành kèm theo Thông tư số 04/2017)của một người tên Lương (Người Lào) với giá 1.500.000.000 đồng. Đồng thời Hường thông áo cho Nguyễn Thị H1 (chủ hàng, cùng chung vốn mua án Tê tê) iết là hàng Tê tê sắp về để Hương đến nhà Hường cùng kiểm đếm dỡ Tê tê. Nguyễn Thị Hđã thuê Võ Văn T, Đinh Thị Á vận chuyển, Trần Thị Thanh T kiểm đếm Tê tê; Đậu Xuân H ốc, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Q, Nguyễn Thị C nấu ột cho Tê tê ăn; Nguyễn Hữu C, Nguyễn Ánh S và Nguyễn Công D ốc dỡ, nhốt và ơm ột cho Tê tê ăn. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, khi Nguyễn Thị Hcùng Nguyễn Thị H1, Trần Thị Thanh T đang kiểm đếm Tê tê và chỉ đạo Đậu Xuân H, Nguyễn Hữu C, Nguyễn Ánh S, Nguyễn Công D, Nguyễn Thị Qvà Nguyễn Thị C ốc dỡ, ơm ột cho Tê tê ăn tại nhà riêng của Hường thì ị Tổ công tác của Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, uôn lậu phát hiện, ắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Với hành vi phạm tội nêu trên, tại ản án Hình sự sơ thẩm số 01/2020/HS-ST ngày 14/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh quyết định:

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 244 Bộ luật hình sự: Tuyên ố các ị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H1 (Nguyễn Thị Thúy H1), Võ Văn T, Trần Thị Thanh T, Đinh Thị Á, Đậu Xuân H, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Q, Nguyễn Thị C, Nguyễn Ánh S, Nguyễn Hữu C, Nguyễn Công D, phạm tội “Vi phạm quy định về ảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.

- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 244, các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt ị cáo Nguyễn Thị H 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo đi chấp hành án. Bị cáo được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2019 đến ngày 12/8/2019.

- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 244, các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt ị cáo Nguyễn Thị H1 08 năm tù.Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo đi chấp hành án. Bị cáo được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2019 đến ngày 12/8/2019.

- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 244, các điểm s, t và v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt ị cáo Võ Văn T 02 năm 9 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo đi chấp hành án. Bị cáo được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/01/2019 đến ngày 12/8/2019.

- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 244, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt ị cáo Trần Thị Thanh T 02 năm 6 tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo đi chấp hành án. Bị cáo được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2019 đến ngày 12/8/2019.

- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 244, các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt ị cáo Đinh Thị Á 02 năm 6 tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo đi chấp hành án. Bị cáo được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2019 đến ngày 12/8/2019.

- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 244, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt ị cáo Đậu Xuân H 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo đi chấp hành án. Bị cáo được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 17/01/2019 đến ngày 24/01/2019.

- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 244, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt ị cáo Nguyễn Thị C 02 năm tù.Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo đi chấp hành án.

- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 244, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt ị cáo Nguyễn Thị Q 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo đi chấp hành án. Bị cáo được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 17/01/2019 đến ngày 24/01/2019 vào thời gian chấp hành án.

- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 244, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt ị cáo Nguyễn Thị C 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo đi chấp hành án. Bị cáo được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 17/01/2019 đến ngày 24/01/2019.

- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 244, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt ị cáo Nguyễn Hữu C 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo đi chấp hành án. Bị cáo được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 17/01/2019 đến ngày 24/01/2019.

- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 244, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt ị cáo Nguyễn Ánh S 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo đi chấp hành án. Bị cáo được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 17/01/2019 đến ngày 24/01/2019.

- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 244, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt ị cáo Nguyễn Công D 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo đi chấp hành án. Bị cáo được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 17/01/2019 đến ngày 24/01/2019.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 32, khoản 4 Điều 244 Bộ luật hình sự phạt ổ sung các ị cáo: Nguyễn Thị Hvà ị cáo Nguyễn Thị H1 (Nguyễn Thị Thúy H1) mỗi ị cáo 70 triệu đồng; Bị cáo Võ Văn T 60 triệu đồng; ị cáo Trần Thị Thanh T và Đinh Thị Ánh mỗi ị cáo 50 triệu đồng.

Án sơ thẩm còn tuyên về án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm ị cáo Nguyễn Thị H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, không áp dụng phạt ổ sung và xem xét việc ỏ lọt tội phạm. Bị cáo Nguyễn Thị H1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và giảm tiền phạt ổ sung; Trần Thị Thanh T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; Võ Văn T, Đinh Thị Á kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và giảm tiền phạt ổ sung; Đậu Xuân H, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Q, Nguyễn Thị C, Nguyễn Ánh S, Nguyễn Hữu C, Nguyễn Công D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm ị cáo Nguyễn Thị H xin rút kháng cáo xem xét việc ỏ lọt tội phạm và giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, không áp dụng phạt ổ sung phạt tiền. Bị cáo Trần Thị Thanh T ổ sung kháng cáo xin không áp dụng hình phạt tiền.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đề nghị HĐXX phúc thẩm căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của ị cáo Nguyễn Thị H1 và Nguyễn Thị H, giảm cho các ị cáo từ 1 năm 6 tháng đến 2 năm tù. Không chấp nhận kháng cáo của các ị cáo Võ Văn T, Đinh Thị Á, Trần Thị Thanh T, Đậu Xuân H, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Q, Nguyễn Thị C, Nguyễn Ánh S, Nguyễn Hữu C, Nguyễn Công D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng:

Kháng cáo của các ị cáo trong hạn luật định nên hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa ị cáo Nguyễn Thị Hxin rút kháng cáo đề nghị xem xét việc ỏ lọt tội phạm; ị cáo Trần Thị Thanh T ổ sung kháng cáo xin không áp dụng hình phạt tiền. Xét việc rút kháng cáo, ổ sung kháng cáo tại phiên tòa của các ị cáo là hoàn toàn tự nguyện nên được chấp nhận.

Về nội dung:

Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm các ị cáo hoàn toàn khai nhận toàn ộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của các ị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với thời gian, địa điểm phạm tội cũng như phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định ản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện H xét xử các bị cáo về tội “Vi phạm quy định về ảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” được quy định tại khoản 3 Điều 244 của BLHS là đúng người, đúng tội, có căn cứ, đúng pháp luật.

Khi thực hiện hành vi, các i cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nH vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các ị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách ảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm, xâm phạm nghiêm trọng đến môi trường sinh thái tự nhiên gây mất an ninh trật tự tại địa phương.

Xét kháng cáo của các ị cáo

Xét kháng cáo của Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị H, Võ Văn T:

Trong vụ án này, Nguyễn Thị Hlà người khởi xướng và giữ vai trò chính. Bị cáo là người trực tiếp ỏ tiền vốn 1.500.000.000 đồng mua lô hàng là 215 cá thể Tê tê từ Lào về Việt Nam để mua án trái phép, đồng thời là người tổ chức uôn án, nuôi, nhốt 215 cá thể Tê tê có trọng lượng 603,6 kg. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS: thành khẩn khai áo; được Đồn iên phòng cửa khẩu quốc tế Cầu Treo, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh xác nhận trước khi phạm tội đã cung cấp nhiều thông tin tội phạm về ma túy cho Đồn iên phòng cửa khẩu quốc tế Cầu Treo trong việc ắt giữ đối tượng Xồng Gióng Hạ (người Lào) có hành vi vận chuyển 10kg ma túy đá từ Lào về Việt Nam để tiêu thụ vào ngày 06/9/2017; quá trình sinh sống tại địa phương ị cáo có nhiều đóng góp trong phong trào xây dựng nông thôn mới được Bộ đội iên phòng tỉnh Hà Tĩnh chứng nhận, được UBND xã S, huyện H tặng giấy khen. Bị cáo chăm sóc, nuôi dưỡng mẹ của liệt sỹ Nguyễn Văn Cừ đã hy sinh trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước; ị cáo có hoàn cảnh khó khăn là lao động chính trong gia đình nên HĐXX sơ thẩm cho ị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm ị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ TNHS: Bị cáo được Đồn iên phòng Nậm Cắn, Nghệ An xác nhận trước khi phạm tội đã cung cấp nhiều thông tin tội phạm về ma túy trong việc ắt giữ đối tượng Và Bá Cu (người Lào) có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; bv ố chồng ị cáo là ông Trần Văn Xuân được tặng huân chương kháng chiến hạng 3.

Bị cáo Nguyễn Thị H1 có vai trò đồng phạm là người giúp sức tích cực. Tuy ị cáo Hương không phải góp tiền vốn cùng ị cáo Hường để mua 215 cá thể tê tê nH lại là người trực tiếp ghi sổ sách, àn ạc, thỏa thuận và thống nhất cùng ị cáo Hường thực hiện hành vi uôn án trái phép 215 cá thể Tê Tê và nếu án được số 215 cá thể tê tê thì sẽ chia đều lời, lãi nên phải cùng chịu trách nhiệm với Hường về số tiền 1.500.000.000 đồng và 215 cá thể Tê Tê. Cấp sơ thẩm xác định vai trò của Hương đứng ngang ị cáo Hường trong vụ án để xử ị cáo mức án nghiêm ngang ị cáo Hường và cao hơn các đồng phạm khác là đúng quy định pháp luật. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS: thành khẩn khai áo; ăn năn hối cải, Đồn biên phòng cửa khẩu Thanh Thủy, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xác nhận ngày 18/11/2018 đã cung cấp nhiều thông tin tội phạm về ma túy cho Đồn iên phòng cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy trong việc ắt giữ đối tượng Phoong Xồng (người Lào) đang có hành vi vận chuyển 3.000.000 viên hồng phiến trong chuyên án 212 vào ngày 21/8/2018; Đồn iên phòng cửa khẩu Nam Giang, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xác nhận đã cung cấp nhiều thông tin có công trong việc giúp đỡ đồn Biên Phòng Cửa khẩu Nam Giang, Bộ đội Biên Phòng tỉnh Nghệ An trong công tác đấu tranh phòng chống uôn lậu, gian lận thương mại. Bị cáo Nguyễn Thị H1 (Nguyễn Thị Thúy H1) được UBND thị trấn T xác nhận có công chăm sóc, nuôi dưỡng người có công với cách mạng ông Võ Xuân Quang thuộc Thương Bệnh inh hạng 1:81% từ ngày 16/6/2001 đến nay. Được Hội nạn nhân chất độc da cam/Dioxin huyện H xác nhận từ năm 2011 đến nay gia đình tích cực tham gia ủng hộ quỹ ảo trợ nạn nhân chất độc da cam /Dioxin huyện H. Có ông ngoại được Ủy an mặt trận tổ quốc tỉnh Hà Tĩnh tặng giấy khen. Có à ngoại được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; ị cáo có hoàn cảnh khó khăn là lao động chính trong nhà, chồng ị ệnh, con đang tuổi đi học, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, t, khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS, xét hoàn cảnh gia đình các ị cáo khó khăn con còn nhỏ, ị cáo là phụ nữ và là lao động chính trong gia đình, HĐXX thấy cần phải xem xét giảm nhẹ cho các ị cáo một phần để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo Võ Văn T là đồng phạm với vai trò thứ yếu, là người được ị cáo Nguyễn Thị Hthuê vận chuyển 215 cá thể tê tê với số tiền công 11 triệu đồng nH số tiền công đó ị cáo T chưa được nhận và là người trực tiếp thuê xe, chỉ đạo anh Nguyễn Thanh Vân chở ị cáo Đinh Thị Ánh và ị cáo Trần Thị Thanh T đi lên khu vực iên giới nhận và vận chuyển trái phép 215 cá thể Tê Tê về nhà ị cáo Nguyễn Thị H. Vai trò của ị cáo T đứng sau ị cáo Hường và Hương trong vụ án. Tuy nhiên, xét vai trò của ị cáo là thứ yếu; động cơ, mục đích phạm tội chỉ nhằm vận chuyển lấy tiền công; sau khi phạm tội ị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai áo; được Đồn iên phòng cửa khẩu quốc tế Cầu Treo, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh xác nhận trước khi phạm tội đã cung cấp nhiều thông tin tội phạm về ma túy cho Đồn iên phòng cửa khẩu quốc tế Cầu Treo trong việc điều tra chuyên án 466 – LV ngày 23/7/2015 và chuyên án 469 LV ngày 03/1/2016 của ộ đội Biên phòng tỉnh Hà Tĩnh; được Công an huyện H, tỉnh Hà Tĩnh xác nhận là người có thành tích giúp đỡ Công an huyện H trong việc ắt quả tang Phạm Văn Bình, trú tại Thôn Hà Chua, xã Sơn T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh có hành vi tàng trữ trái phép 0,5753 gam Hêrrôin và ngày 03/8/2015 Cơ quan Điều tra công an huyện H đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố ị can về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngoài ra, trong giai đoạn 2012 – 2015 Võ Văn T đã cung cấp cho Công an huyện H nhiều thông tin có giá trị trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, vi phạm pháp luật góp phần đảm ảo an ninh trật tự trên địa bàn. Bị cáo Võ Văn T trước khi phạm tội là Giám đốc Công ty Cổ Phần Chế iến Lâm Sản Trung Nhi đã được Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng tặng ằng khen vì đã có nhiều thành tích đóng góp cho đợt vận động mái ấm cho người nghèo, nơi iên giới hải đảo. Quá trình sinh sống tại địa phương ản thân ị cáo; công ty của ị cáo cũng như vợ của ị cáo đã có nhiều hoạt động vì người nghèo, nạn nhân chất độc da cam. Bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng a và 40 năm tuổi đảng nên ị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, t, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm ị cáo xuất trình thêm tình tiết có công cứu người cứu nạn được UBND thị trấn Phố Châu iểu dương, khen thưởng. Trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ TNHS cũng như nhân thân ị cáo HĐXX xét thấy cần giảm nhẹ cho ị cáo một phần vì vậy kháng cáo của ị cáo có căn cứ được chấp nhận.

Cần giữ nguyên hình phạt ổ sung phạt tiền đối với các ị cáo để đảm ảo tính nghiêm minh của pháp luật.

Bị cáo Đinh Thị Á, Đậu Xuân H, Nguyễn Thị Cn, Nguyễn Thị Q, Nguyễn Thị C, Nguyễn Ánh S, Nguyễn Hữu C, Nguyễn Công D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo. Các ị cáo đều không có tình tiết tăng nặng TNHS, có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS, trong đó có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, do vậy Hội đồng xét xử sơ thẩm đã áp dụng cho các ị cáo được hưởng hình phạt ở mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề được quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự là đúng quy định pháp luật. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ TNHS và khung hình phạt đã viện dẫn trên, HĐXX phúc thẩm thấy mức án mà cấp sơ thẩm tuyên đối với các ị cáo là tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của các ị cáo nên không có căn cứ để giảm nhẹ hơn nữa. Đối với ị cáo Đinh Thị Á, Trần Thị Thanh T có vai trò đồng phạm giúp sức cho ị cáo Nguyễn Thị H trong việc nhận, kiểm đếm và vận chuyển Tê Tê tuy nhiên ị cáo Á, T có hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, không có thu nhập, các ị cáo là lao động chính trong gia đình, con còn nhỏ, công việc chính là đi làm thuê kiếm tiền trang trải cuộc sống hàng ngày, vì vậy HĐXX xét thấy kháng cáo không áp dụng hình phạt ổ sung phạt tiền đối với ị cáo Đinh Thị Á, Trần Thị Thanh T được chấp nhận.

Về án phí: Kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí HSPT theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;

Chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của ị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H1, Võ Văn T.

Sửa bản án sơ thẩm số 01/2020/HS-ST ngày 14/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh về phần hình phạt đối với các ị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H1, Võ Văn T.

Không chấp nhận nội dung kháng cáo của các ị cáo Đinh Thị Á, Trần Thị Thanh T, Đậu Xuân H, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Q, Nguyễn Thị C, Nguyễn Ánh S, Nguyễn Hữu C, Nguyễn Công D về phần hình phạt.

Giữ nguyên ản án sơ thẩm số 01/2020/HS-ST ngày 14/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh về phần hình phạt đối với các ị cáo Đinh Thị Á, Trần Thị Thanh T, Đậu Xuân H, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Q, Nguyễn Thị C, Nguyễn Ánh S, Nguyễn Hữu C, Nguyễn Công D.

Chấp nhận kháng cáo về nội dung không áp dụng hình phạt ổ sung phạt tiền đối với các ị cáo Đinh Thị Á, Trần Thị Thanh T.

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 244 Bộ luật hình sự:

Tuyên ố các ị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H1 (Nguyễn Thị Thúy H1), Võ Văn T, Trần Thị Thanh T, Đinh Thị Á, Đậu Xuân H, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Q, Nguyễn Thị C, Nguyễn Ánh S, Nguyễn Hữu C, Nguyễn Công D phạm tội “Vi phạm quy định về ảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 244, các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt ị cáo Nguyễn Thị H6 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo đi chấp hành án. Bị cáo được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2019 đến ngày 12/8/2019.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 244, các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt ị cáo Nguyễn Thị H1 6 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo đi chấp hành án. Bị cáo được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2019 đến ngày 12/8/2019.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 244, các điểm s, t và v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt ị cáo Võ Văn T 2 năm 6 tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo đi chấp hành án. Bị cáo được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/01/2019 đến ngày 12/8/2019.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 244, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt ị cáo Trần Thị Thanh T 02 năm 6 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo đi chấp hành án. Bị cáo được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2019 đến ngày 12/8/2019.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 244, các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt ị cáo Đinh Thị Á 02 năm 6 tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo đi chấp hành án. Bị cáo được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2019 đến ngày 12/8/2019.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 244, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt ị cáo Đậu Xuân H 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo đi chấp hành án. Bị cáo được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 17/01/2019 đến ngày 24/01/2019.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 244, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt ị cáo Nguyễn Thị C 02 năm tù.Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo đi chấp hành án.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 244, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt ị cáo Nguyễn Thị Q 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo đi chấp hành án. Bị cáo được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 17/01/2019 đến ngày 24/01/2019 vào thời gian chấp hành án.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 244, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt ị cáo Nguyễn Thị Chinh 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo đi chấp hành án. Bị cáo được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 17/01/2019 đến ngày 24/01/2019.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 244, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt ị cáo Nguyễn Hữu C 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo đi chấp hành án. Bị cáo được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 17/01/2019 đến ngày 24/01/2019.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 244, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt ị cáo Nguyễn Ánh S 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo đi chấp hành án. Bị cáo được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 17/01/2019 đến ngày 24/01/2019.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 244, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt ị cáo Nguyễn Công D 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo đi chấp hành án. Bị cáo được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 17/01/2019 đến ngày 24/01/2019.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 32, khoản 4 Điều 244 Bộ luật hình sự phạt ổ sung các ị cáo Nguyễn Thị H; Nguyễn Thị H1 (Nguyễn Thị Thúy Hương) mỗi ị cáo 70 ( ảy mươi) triệu đồng; Võ Văn T 60 (sáu mươi) triệu đồng

2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết về án phí, lệ phí Toà án uộc ị cáo Đậu Xuân H, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Q, Nguyễn Thị C, Nguyễn Ánh S, Nguyễn Hữu C, Nguyễn Công D mỗi ị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H1, Võ Văn T, Đinh Thị Á, Trần Thị Thanh T không phải chịu án phí HSPT.

3. Các quyết định khác của ản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ