vanban.org

Bản án 82/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần T A được ly hôn với anh Mai D L.

Về con chung: Giao 02 người con chung tên Mai A D sinh ngày 11/01/2005 và Mai N D, sinh ngày 11/7/2006 cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng. Chị A không trực tiếp nuôi con có quyền lui tới, thăm nom, nuôi dưỡng con chung, không ai được cản trở. Chị A có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung, mỗi tháng 2.00… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần T A - mai D L"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần T A được ly hôn với anh Mai D L.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2020/HNGĐ-ST
Ngày 29 tháng 6 năm 2020
Về việc: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hoàng Kha

Ông Võ Sĩ Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Vân là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ngày 29 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 215/2020/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 05 năm 2020 về việc: Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 375/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần T A, sinh năm 1985 (Có mặt)

Địa chỉ: Số 0, ấp B, xã L, thành phố C, tỉnh C.

Bị đơn: Anh Mai D L, sinh năm 1981 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số 0, L, k, p, thành phố C, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Trần T A trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Mai D L kết hôn với nhau vào năm 2004, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân p, thành phố C, tỉnh C. Trong quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã, vợ chồng đã ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn và không thể tiếp tục chung sống nên chị yêu cầu được ly hôn với anh L.

Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung tên Mai A D sinh ngày 11/01/2005 và Mai N D, sinh ngày 11/7/2006, hiện đang sống cùng với anh D. Khi ly hôn, chị đồng ý giao 02 con chung anh D nuôi dưỡng, chị cấp dưỡng nuôi con, mỗi tháng 2.000.000 đồng/02 con chung cho đến khi các con chung dủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị A xác định không có.

Đối với bị đơn anh Mai D L: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ để hòa giải, công khai chứng cứ và xét xử nhưng anh L vẫn vắng mặt không lý do.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Anh Mai D L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để xét xử sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh L theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Chị Trần T A và anh Mai D L kết hôn với nhau vào năm 2004, hôn nhân tự nguyên và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân p, thành phố C, tỉnh C. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị A và anh L được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp và bảo vệ.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị A xác định không còn tình cảm yêu thương anh L, hôn nhân không còn hạnh phúc, chị A mong muốn được ly hôn và khẳng định đời sống hôn nhân không thể duy trì, trường hợp tiếp tục chung sống sẽ không mang lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã ly thân với nhau từ năm 2019 cho đến nay. Đối với anh L, Tòa án đã thông báo trực tiếp cho anh L biết về yêu cầu khởi kiện của chị A, nhưng anh L không có ý kiến gì. Do đó, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị A được ly hôn với anh L.

Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung tên Mai A D sinh ngày 11/01/2005 và Mai N D, sinh ngày 11/7/2006. Chị A xác định, con chung hiện đang sống cùng với anh L từ khi vợ chồng ly thân với nhau cho đến nay. Khi ly hôn, chị A đồng ý giao 02 con chung anh L nuôi dưỡng, chị A cấp dưỡng nuôi con, mỗi tháng 2.000.000 đồng/02 con chung cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Thấy rằng, các con chung hiện nay đã ổn định về cuộc sống và sự tự nguyện chị A về việc giao con chung và cấp dưỡng nuôi con là không ai ép buộc, đảm bảo được quyền lợi và nguyện vọng của con chung nên được chấp nhận. Do đó, giao các con chung cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng, chị A có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, mỗi tháng 2.000.000 đồng/02 người con cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Chị A không trực tiếp nuôi con có quyền lui tới, thăm nom, nuôi dưỡng con chung, không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị A xác định không có.

Về án phí: Chị A phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58, 107, 110, 116 và 117 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Trần T A được ly hôn với anh Mai D L.

2. Về con chung: Giao 02 người con chung tên Mai A D sinh ngày 11/01/2005 và Mai N D, sinh ngày 11/7/2006 cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng. Chị A không trực tiếp nuôi con có quyền lui tới, thăm nom, nuôi dưỡng con chung, không ai được cản trở.

Chị A có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung, mỗi tháng 2.000.000 đồng/02 người con cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Cấp dưỡng hàng tháng. Thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày 29/6/2020.

Đối với số tiền cấp dưỡng nuôi con, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người bị thi hành án còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị A xác định không có.

4. Về án phí: Chị A phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng và án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng. Ngày 05/5/2020 chị A đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0001731 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau, được chuyển thu đối trừ. Chị A còn phải nộp tiếp số tiền 300.000 đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ