- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dương Văn Hai + Triệu Thị Thắm "HNGĐ""
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Dương Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 82/2020/HNGĐ-ST Ngày 21/10/2020 V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Giáp Văn Phẩm, Ông Vũ Ngọc Côn.
-Thư ký phiên toà: Ông Diệp Văn Vĩ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bảo – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn - Tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 367/2020/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 10 năm 2020 về việc tranh chấp "Hôn nhân và gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2020/QĐXX-ST, ngày 07 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Dương Văn H, sinh năm 1977 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn Ngọt, xã Hồng Giang, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn: Chị Triệu Thị T, sinh năm 1978 (Vắng mặt, có Quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án)
Địa chỉ: Thôn Ngọt, xã Hồng Giang, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
NHẬN THẤY:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai ngày 22/8/2020 và những tài liệu tiếp theo nguyên đơn anh Dương Văn H trình bày: Anh và chị Triệu Thị T được tìm hiểu trên cơ sở tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương vào năm 1996, có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã Hồng Giang. Sau ngày cưới chị T về sống chung cùng anh tại thôn Ngọt, xã Hồng Giang, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, tỉnh cảm hoà thuận hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì xảy ra. Nhưng đến cuối năm 2015 chị Triệu Thị T bỏ nhà đi không có tin tức gì, anh H đã tìm kiếm, hỏi tin tức về chị T tại hai bên gia đình, bạn bè nhưng đều không có kết quả.
Kể từ năm 2015 đến nay anh luôn tìm kiếm, nghe ngóng tin tức về chị T nhưng cũng không có thông tin gì về chị T. Đến ngày 14/02/2020 anh H đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tuyên bố chị Triệu Thị T mất tích. Tại Quyết định số 03/2020/QĐST-VDS ngày 11/8/2020 Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn đã tuyên bố chị Triệu Thị T, sinh năm 1978, nơi cư trú cuối cùng: Thôn Ngọt, xã Hồng Giang, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang mất tích.
Nay anh đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với chị Triệu Thị T.
Về con chung: Vợ chồng anh chị sinh được hai con chung là Dương Văn T– sinh ngày 11/02/1999, cháu Dương Thị H – sinh ngày 06/3/2003. Ly hôn cháu T đã trưởng thành có cuộc sống riêng anh không có yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết việc nuôi dưỡng, anh có nguyện vọng được trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Dương Thị H, không đề nghị Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản riêng, chung, công nợ, đất nông nghiệp: Anh không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.
Tại bản tự khai cháu Dương Thị H trình bày: Cháu có nguyện vọng được ở với bố Dương Văn H.
Đại diện của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà đó có quan điểm như sau:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong thời gian chuẩn bị xét xử đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Việc tuân theo thep pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên toà đã tuân theo đúng qui định của Bộ luật tố tụng Dân sự, về việc xét xử sơ thẩm vụ án; Những người tham gia tố tụng đó thực hiện các qui định của Bộ luật tố tụng Dân sự về việc chấp hành pháp luật.
Về nội dung: Áp dụng khoản 2 Điều 53 và khoản 2 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình 2014; khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 147, Điều 274 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Dương Văn H cho anh Dương Văn Hai được ly hôn chị Triệu Thị T.
- Về con chung: Giao cho anh Dương Văn H trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Dương Thị H – sinh ngày 06/3/2003.
- Về khoản tiền cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- Tài sản: Tài sản chung, riêng, đất ruộng nông nghiệp: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 6; 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Quốc hội, qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Anh Dương Văn H phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà. Sau khi thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Anh Dương Văn H có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết cho anh và chị Triệu Thị T được ly hôn. Bị đơn chị Triệu Thị T (Địa chỉ cư trú cuối cùng: Thôn Ngọt, Hồng Giang, Lục Ngạn, Bắc Giang) có Quyết định Tuyên bố mất tích của Tòa án. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015 thì tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn.
Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại quyết định số: 03/QĐ-VDS ngày 11 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn tuyên bố chị Triệu Thị T, sinh năm 1979 (Nơi cú trú cuối cùng: Thôn Ngọt, Hồng Giang, Lục Ngạn, Bắc Giang) bị mất tích. Căn cứ vào khoản 2 Điều 56 LHNGĐ năm 2014, HĐXX tiếp tục xét xử vụ án.
Về nội dung: Anh Dương Văn H và chị Triệu Thị T được tìm hiểu trên cơ sở tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương vào năm 1996, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã Hồng Giang như vậy đây là hôn nhân hợp pháp. Sau ngày cưới chị T về sống chung cùng anh Hai tại thôn Ngọt, xã Hồng Giang, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, tình cảm hoà thuận phúc và sinh được hai người con. Đến cuối năm 2015 chị Triệu Thị T bỏ nhà đi không quay về nhà chung sống với anh H nữa, anh H đã đi tìm kiếm và về gia đình bên ngoại nhưng cũng không thấy chị T, gia đình bên ngoại cũng không biết hiện nay chị T đang ở đâu, làm công việc gì.
Tháng 02/2020 anh H đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tuyên bố chị Triệu Thị T, sinh năm 1978 nơi cư trú cuối cùng: Thôn Ngọt, xã Hồng Giang, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang mất tích theo quy định của pháp luật.
Tại Quyết định số 03/2020/QĐST-VDS, ngày 11 tháng 8 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã tuyên bố chị Triệu Thị T, sinh năm 1978, nơi cư trú cuối cùng: Thôn Ngọt, xã Hồng Giang, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang mất tích.
Tại phiên toà anh Dương Văn H xác định không có nguyện vọng chờ đợi chị T về đoàn tụ vợ chồng, tình cảm không còn đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với chị Triệu Thị T theo qui định của pháp luật.
Xét yêu cầu khởi kiện đề nghị của anh Dương Văn H là có căn cứ chấp nhận phù hợp với khoản 2 Điều 53 và khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 xử: Cho anh Dương Văn H được ly hôn với chị Triệu Thị T.
Về con chung: Anh anh Dương Văn H và chị Triệu Thị T sinh được hai người con là Dương Văn T, sinh ngày 11/02/1999 và Dương Thị H – sinh ngày 06/3/2003. Cháu T đã trên 18 tuổi, có cuộc sống riêng nên anh không có yêu cầu đề nghị giải quyết việc nuôi dưỡng, anh H có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu Dương Thị H, cháu H có nguyện vọng ở với anh, cần tôn trọng nguyện vọng của cháu H và anh H, giao cho anh H là người trực tiếp chăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục cháu H là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Về khoản tiền cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra xem xét giải quyết vì đương sự không yêu cầu.
Tài sản: Tài sản riêng, chung; công nợ chung, đất nông nghiệp: Anh H không yêu cầu, đề nghị xem xét giải quyết, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Án phí: Anh Dương Văn H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình. Xác nhận anh Dương Văn Hđã nộp 300.000đ tiền dự phí theo biên lai thu số AA/2019/0001576, ngày 06/10/2020, taị Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, khoản tiền này được khấu trừ vào tiền án phí, nên anh Hai đó nộp đủ không phải nộp nữa.
Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên ;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 2 Điều 53 và khoản 2 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015; Điều 6 và Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Quốc hội, qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Dương Văn H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Dương Văn H được ly hôn với chị Triệu Thị T.
2. Con chung: Giao cho anh Dương Văn H trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Dương Thị H, sinh ngày 06/3/2003. Sau khi ly hôn chị Triệu Thị T có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Tài sản, công nợ: Không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Án phí: Anh Dương Văn H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình. Xác nhận anh Dương Văn H đã nộp 300.000đ tiền dự phí theo biên lai thu số AA/2019/0001576, ngày 06/10/2020, taị Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, khoản tiền này được khấu trừ vào tiền án phí, anh Dương Văn H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trọng hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương vắng mặt có quyền kháng cáo trọng hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Lục Ngạn; - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn; - UBND xã Hồng Giang; - Cổng thông tin điện tử TAND tối cao; - Các đương sự, - Lưu HS, VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Văn Hiếu |