vanban.org

Bản án 82/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng Tuyên án 21/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao bị cáo Nguyễn Đình K cho Ủy ban nhân dân phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Nguyễn Đình K thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo Nguyễn Đình K cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Nguyễn Đình K phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "K phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Giao bị cáo Nguyễn Đình K cho Ủy ban nhân dân phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2019/HS-ST
Ngày 21-11-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Tư

Bà Hà Thị Mão

- Thư ký phiên toà: Bà Lương Thị Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Lương Thu Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 77/2019/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 234/2019/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Đình K, sinh ngày 12 tháng 9 năm 1999 tại Hải Phòng; nơi ĐKHKTT: Đường N, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Ngõ phụ sau C, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình L và bà Nguyễn Thị H; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 31/7/2019 đến ngày 02/8/2019 thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Bị hại: Anh Cao Đức T, sinh năm 1999; nơi cư trú: Phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do mâu thuẫn qua mạng xã hội Facebook giữa Nguyễn Đình K và Nguyễn Tùng A nên cả hai đã hẹn nhau ra khu vực đường 100m phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng để đánh nhau. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 23/6/2019, K đi từ nhà ra chỗ hẹn mang theo 01 con dao bầu nhọn đầu dài khoảng 30cm, cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại rồi gọi điện cho Tùng A nhưng Tùng A không nghe máy. Nguyễn Thanh B điều khiển xe máy chở Cao Đức T là bạn của K và Tùng A đi ăn cơm trưa. Khi đi đến khu vực đường 100m thuộc tổ 31 cụm 5 phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng thì T nhìn thấy K đang dựng xe máy đứng dưới gốc cây gần đó. T bảo B dừng lại, T đi về phía K. K nghĩ T ở nhóm của Tùng A đến đánh nhau nên K nói với T “Tao không nói chuyện với mày”. T tiến về phía K nói “Thích đánh nhau à, đánh đi, đánh đi”. Lúc này, K lấy dao đang dấu dưới gốc cây, khua lên hướng từ phải qua trái chém vào vùng vai, cổ của T làm T bị thương. Ngay sau đó, B đã đưa T đi cấp cứu tại bệnh viện còn K điểu khiển xe bỏ đi.

Đến 15 giờ ngày 24/6/2019, bà Trần Thị B là mẹ của Cao Đức T đến Công an phường Đông Khê trình báo.

Theo Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 280/2019/TgT ngày 01/7/2019 của Trung T Pháp y Hải Phòng kết luận: Nạn nhân Cao Đức T bị vết xây xước da vùng trước vai phải, vết thương vùng 1/3 giữa xương đòn phải và vết thương vùng trước cổ gây đứt bán phần cơ ức đòn chũm hai bên, đứt cơ ức móng trái, đứt tĩnh mạch cảnh hai bên đã được điều trị đang dần ổn định, còn ảnh hưởng thẩm mỹ và vận động vùng cổ. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do vết thương vùng 1/3 giữa xương đòn phải và vết thương vùng trước cổ gây nên là 13%. Vết xây xước da mặt trước vai phải không đủ lớn đánh giá tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Tổn thương đứt tĩnh mạch cảnh hai bên không có hướng dẫn tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể nên không có căn cứ đánh giá tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Các thương tích trên có đặc điểm do vật sắc tác động trực tiếp gây nên”.

Sau khi gây thương tích cho anh Cao Đức T, Nguyễn Đình K bỏ trốn khỏi nơi cư trú, Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã ra Quyết định truy nã Nguyễn Đình K. Ngày 31/7/2019 K đã đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Ngô quyền đầu thú.

Vật chứng của vụ án: 01 con dao bầu nhọn đầu dài khoảng 30 cm, cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại hiện không thu hồi được.

Tại Bản Cáo trạng số 78/CT-VKSNQ ngày 31/10/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình K về tội "Cố ý gây thương tích" theo điểm đ (điểm a, i khoản 1) khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đình K khai do mâu thuẫn từ trước, bị cáo K nghĩ T ở nhóm của Tùng A đến đánh nhau. T tiến về phía K, có hành động huých bị cáo và nói “Thích đánh nhau à, đánh đi, đánh đi”. Lúc này, K lấy dao đang dấu dưới gốc cây, khua lên hướng từ phải qua trái chém vào vùng vai, cổ của T làm T bị thương; về trách nhiệm dân sự nhận bồi thường cho anh T số tiền là 45.000.000 đồng.

Bị hại anh Cao Đức T vắng mặt tại phiên tòa, có quan điểm thể hiện trong hồ sơ vụ án: Anh T tiến đến sát vào người K và huých K 1 cái và có nói: “Thích đánh nhau à, đánh đi, đánh đi”. Trong quá trình điều tra vụ án bị cáo đã bồi thường cho anh T 45.000.000 đồng, anh T không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Kiểm sát viên tại phiên tòa đã rút một phần quyết định đã truy tố về tình tiết theo điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự “Có tính chất côn đồ” vì giữa bị cáo và bị hại có mâu thuẫn từ trước, bị hại đã có lời lẽ và hành động dẫn đến bị cáo hiểu lầm và gây thương tích cho bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm đ (điểm a khoản 1) khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 30 đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội "Cố ý gây thương tích". Thời gian thử thách từ 60 đến 72 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường thương tích cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng của vụ án: 01 con dao bầu nhọn đầu dài khoảng 30 cm, cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại hiện không thu hồi được.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:

Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của bị hại, những người làm chứng có trong hồ sơ vụ án và vật chứng thu giữ có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Đình K đã có hành vi dùng 01 con dao bầu nhọn đầu dài khoảng 30 cm, cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại, làm anh T bị thương tích giảm 13% sức khỏe vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 23/6/2019 khu vực đường 100m phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng để đánh nhau. Do có mâu thuẫn từ trước, bị hại có lỗi khi có lời lẽ, hành động kích động xông đến bị cáo, bị cáo K đã dùng dao bầu nhọn là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại, vì vậy bị cáo phải chịu các tình tiết định khung “Dùng hung khí nguy hiểm” theo quy định tại điểm đ khoản 2 (điểm a khoản 1) Điều 134 của Bộ luật hình sự. Việc truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Nguyễn Đình K về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, không những xâm phạm sức khỏe, gây hoang mang lo sợ, ảnh hưởng lớn tinh thần của người khác mà còn gây mất trật tự trị an xã hội.

- Về tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tuy nhiên cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt vì tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, tự nguyện bồi thường cho bị hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết bắt bị cáo phải cách ly ra khỏi xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục cũng đủ đảm bảo tính răn đe theo quy định tại khoản 1 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

- Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại anh Cao Đức T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Xử lý vật chứng của vụ án:

01 con dao bầu nhọn đầu dài khoảng 30 cm, cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại hiện không thu hồi được nên không xem xét giải quyết.

- Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14; bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Việc khởi tố, điều tra, truy tố và ban hành quyết định khởi tố, truy tố; áp dụng biện pháp ngăn chặn; tống đạt các văn bản tố tụng; lấy lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác; thời hạn điều tra, truy tố; thủ tục định giá trong tố tụng hình sự đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ (điểm a khoản 1) khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Đình K 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”. Trừ cho bị cáo 03 ngày bị tạm giữ, bị cáo còn phải chấp hành 23 tháng 27 ngày. Thời gian thử thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Đình K cho Ủy ban nhân dân phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Nguyễn Đình K thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, bị cáo Nguyễn Đình K cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Nguyễn Đình K phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về án phí: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Đình K phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Nguyễn Đình K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại anh Cao Đức T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ