vanban.org

Bản án 82/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 26/11/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V đối với bà Pha Ty M 1. Buộc bà Pha Ty M có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số tiền 61.145.410 đồng (Sáu mươi mốt triệu một trăm bốn mươi lăm nghìn bốn trăm mười đồng), trong đó: vốn gốc là 34.771.682 đồng (Ba mươi b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa Ngân hàng V với bà M"
  • Tòa quyết gì? Điểm b khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 297 Luật thương mại; Điều 306 Luật thương mại; Điều 463 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2019/DS-ST
Ngày 26/11/2019
V/v tranh chấp Hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

ơ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Ngọc Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Thành Thật

Bà Phan Hoàng Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bé Thu – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Không tham gia phiên tòa

Ngày 26 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 133/2019/TLST– DS ngày 12 tháng 6 năm 2019, về việc tranh chấp: “Hợp đồng vay tài sản”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 268/2019/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V

Đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chủ tịch Hội đồng quản trị

Trụ sở: phường LH, Quận Đ, thành phố N.

1.1. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:

1.1.1. Đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Thành Tr-Phó Tổng Giám đốc Công ty TNHH Quản lý tài sản Ngân hàng Thương mại Cổ phần V kiêm Phó Giám đốc Khối Pháp chế và Kiểm soát tuân thủ. (Theo Văn bản ủy quyền số 11/2018/UQ-HĐQT ngày 02/3/2018).

1.1.2. Người đại diện theo ủy quyền lại:

Bà Hồ Cẩm N - Chuyên viên tố tụng. Địa chỉ liên lạc: phường HL, Quận NK, thành phố C (Vắng mặt)

Ông Lê Văn H - Chuyên viên xử lý nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần V. Địa chỉ liên lạc: phường 4, Quận 3, thành phố H (Có mặt)

Theo Văn bản ủy quyền số 9857/2019/UQ-PGĐK ngày 25/4/2019 của Phó Tổng Giám đốc Công ty TNHH Quản lý tài sản Ngân hàng Thương mại Cổ phần V kiêm Phó Giám đốc Khối Pháp chế và Kiểm soát tuân thủ.

2. Bị đơn: Bà Pha Ty M, sinh năm 1985 (Vắng mặt)

Hộ khẩu thường trú: phường L, thành phố X, tỉnh G

Địa chỉ liên lạc: khóm T5, phường P, thành phố X, tỉnh G.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Phần trình bày của ông Lê Văn H là người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V Chi nhánh G đã ký Hợp đồng tín dụng với bà Pha Ty M. Theo đó hợp đồng tín dụng mà bà Pha Ty M đã ký là Hợp đồng tín dụng giải ngân ngày 31/8/2017 (căn cứ vào giấy đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng, hợp đồng mở và sử dụng tài khoản, thẻ ghi nợ ngày 28/8/2017), theo đó Ngân hàng đã đồng ý cho bà Pha Ty M vay số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng), thời hạn vay 40 tháng. Quá trình thực hiện hợp đồng, khách hàng vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng tín dụng đã ký, phía Ngân hàng Thương mại Cổ phần V đã nhiều lần liên hệ và tạo điều kiện cho bà Pha Ty M thanh toán nhưng bà cố tình tránh né không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

Tại phiên tòa, ông H là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc bà Pha Ty M phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán toàn bộ nợ gốc và nợ lãi tạm tính đến ngày 26/11/2019, tổng dư nợ đối với hợp đồng tín dụng của bà Pha Ty M tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần V là 61.145.410 đồng (Sáu mươi mốt triệu một trăm bốn mươi lăm nghìn bốn trăm mười đồng). Ngoài ra, bà Pha Ty M phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V tiền lãi phát sinh theo quy định tại các hợp đồng đã ký kể từ ngày 27/11/2019 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ

- Phần trình bày của bị đơn bà Pha Ty M vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết đối với vụ án nên không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa, ông Lê Văn H là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn bà Pha Ty M được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không tham dự phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:Ngân hàng Thương mại Cổ phần V do ông Ngô Chí D

- Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Thương mại Cổ phần V là người đại diện theo pháp luật ủy quyền cho ông Đỗ Thành Tr - Phó Tổng Giám đốc Công ty TNHH Quản lý tài sản Ngân hàng Thương mại Cổ phần V kiêm Phó Giám đốc Khối Pháp chế và Kiểm soát tuân thủ đại diện theo văn bản ủy quyền số: 11/2018/UQ-HĐQT ngày 02/3/2018 của Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng Thương mại Cổ phần V. Ông Đỗ Thành Tr ủy quyền lại cho bà Hồ Cẩm N - Chuyên viên tố tụng và ông Lê Văn H - Chuyên viên xử lý nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần V đại diện theo văn bản ủy quyền số 9857/2019/UQ-PGĐK, ngày 25/4/2019 của Phó Tổng Giám đốc Công ty TNHH Quản lý tài sản Ngân hàng Thương mại Cổ phần V kiêm Phó Giám đốc Khối Pháp chế và Kiểm soát tuân thủ, thủ tục ủy quyền hợp lệ phù hợp theo quy định của pháp luật nên được Tòa án chấp nhận.

Bị đơn bà Pha Ty M mặc dù được tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng Pha Ty M vẫn không tham dự phiên tòa nên vụ án được tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V khởi kiện bà Pha Ty M để yêu cầu trả số tiền vốn và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong tín dụng giải ngân ngày 31/8/2017 (căn cứ vào giấy đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng, hợp đồng mở và sử dụng tài khoản, thẻ ghi nợ ngày 28/8/2017). Đây là tranh chấp phát sinh theo thỏa thuận giữa hai bên tại hợp đồng tín dụng, mục đích vay khi ngân hàng cho bà Pha Ty M vay nhằm sửa chữa nhà việc cho vay không phát sinh vì mục đích kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự nên đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

Theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng giải ngân ngày 31/8/2017 (căn cứ vào giấy đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng, hợp đồng mở và sử dụng tài khoản, thẻ ghi nợ ngày 28/8/2017), Ngân hàng Thương mại Cổ phần V và bà Pha Ty M thỏa thuận khi có phát sinh tranh chấp thì Tòa án nơi trụ sở Ngân hàng mà các bên ký kết hợp đồng tín dụng sẽ giải quyết nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Nhận thấy, ngày 28/8/2017, bà Pha Ty M có ký Hợp đồng tín dụng giải ngân ngày 31/8/2017 (căn cứ vào giấy đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng, hợp đồng mở và sử dụng tài khoản, thẻ ghi nợ ngày 28/8/2017) với Ngân hàng Thương mại Cổ phần V, vay số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng), lãi suất 32%/năm; Mục đích vay: Sửa chữa nhà.

Trong quá trình vay vốn bà Pha Ty M chỉ nộp vốn và lãi cho ngân hàng đến ngày 31/10/2018 là 13.438.061 đồng (trong đó: tiền vốn 5.228.318 đồng, tiền lãi 8.209.743 đồng) thì ngưng không thanh toán vốn lãi, ngân hàng đã nhắc nhở nhiều lần nhưng bà Pha Ty M vẫn không thanh toán.

Tại phiên tòa, ông Hoàng là người đại diện cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V cho rằng tạm tính đến ngày 26/11/2019, bà Pha Ty M nợ ngân hàng số tiền 61.145.410 đồng (Sáu mươi mốt triệu một trăm bốn mươi lăm nghìn bốn trăm mười đồng), trong đó: vốn gốc: 34.771.682 đồng (Ba mươi bốn triệu bảy trăm bảy mươi mốt nghìn sáu trăm tám mươi hai đồng), nợ lãi là 26.373.728 đồng (Hai mươi sáu triệu ba trăm bảy mươi ba nghìn bảy trăm hai mươi tám đồng).

Căn cứ vào nội dung Hợp đồng tín dụng giải ngân ngày 31/8/2017 việc ký kết hợp đồng tín dụng trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần V với bà Pha Ty M thì bà Pha Ty M là người đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, ngân hàng không đồng ý kéo dài thêm thời gian trả nợ. Do đó, bà Pha Ty M phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số tiền vốn vay 34.771.682 đồng (Ba mươi bốn triệu bảy trăm bảy mươi mốt nghìn sáu trăm tám mươi hai đồng) theo hợp đồng tín dụng đã ký.

Đối với tiền lãi: Căn cứ vào Điều 3 của Hợp đồng tín dụng giải ngân ngày 31/8/2017 (căn cứ vào giấy đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng, hợp đồng mở và sử dụng tài khoản, thẻ ghi nợ ngày 28/8/2017) thì tiền lãi phát sinh từ số tiền vốn vay 34.771.682 đồng (Ba mươi bốn triệu bảy trăm bảy mươi mốt nghìn sáu trăm tám mươi hai đồng) tính kể từ ngày 31/8/2018 (ngày trả lãi sau cùng và xác định là ngày vi phạm hợp đồng) đến ngày xét xử là 26.373.728 đồng (Hai mươi sáu triệu ba trăm bảy mươi ba nghìn bảy trăm hai mươi tám đồng)

Ông H là người đại diện cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V yêu cầu bà Pha Ty M phải có trách nhiệm thanh toán tiền vốn và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng, còn phía bị đơn vắng mặt suốt trong quá trình giải quyết vụ án cũng như không có ý kiến đối với yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.

Hội đồng xét xử xét thấy bà Pha Ty M là người tự nguyện ký kết với các nội dung đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng Thương mại Cổ phần V nên bà Pha Ty M phải chịu trách nhiệm đối với việc ký kết và thỏa thuận do đó yêu cầu của nguyên đơn về tiền vốn vay và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng là phù hợp theo quy định nên được Hội đồng xét xử xét chấp nhận.

Vì vậy, bà Pha Ty M phải có nghĩa vụ trả tổng cộng số tiền 61.145.410 đồng (Sáu mươi mốt triệu một trăm bốn mươi lăm nghìn bốn trăm mười đồng), trong đó: vốn gốc: 34.771.682 đồng (Ba mươi bốn triệu bảy trăm bảy mươi mốt nghìn sáu trăm tám mươi hai đồng), nợ lãi tạm tính đến ngày 26/11/2019 là 26.373.728 đồng (Hai mươi sáu triệu ba trăm bảy mươi ba nghìn bảy trăm hai mươi tám đồng) cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V được chấp nhận Ngân hàng Thương mại Cổ phần V không phải nộp tiền án phí nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Bà Pha Ty M phải nộp án phí theo quy định tại khoản 1 điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

+ Điều 463, Điều 465, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

+ Điều 297, Điều 306 Luật thương mại;

+ Khoản 14 và khoản 16 Điều 4, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức Tín dụng năm 2010.

+ Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 143, khoản 1 Điều 146, khoản 1 Điều 147, Điều 150, Điều 186, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 240, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Điểm b khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V đối với bà Pha Ty M

1.1. Buộc bà Pha Ty M có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số tiền 61.145.410 đồng (Sáu mươi mốt triệu một trăm bốn mươi lăm nghìn bốn trăm mười đồng), trong đó: vốn gốc là 34.771.682 đồng (Ba mươi bốn triệu bảy trăm bảy mươi mốt nghìn sáu trăm tám mươi hai đồng), nợ lãi tạm tính đến ngày 26/11/2019 là 26.373.728 đồng (Hai mươi sáu triệu ba trăm bảy mươi ba nghìn bảy trăm hai mươi tám đồng).

1.2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 27/11/2019) bà Pha Ty M còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên Ngân hàng Thương mại Cổ phần V đại diện được nhận lại số tiền 1.274.000 đồng (Một triệu hai trăm bảy mươi bốn nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003190 ngày 12 tháng 6 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Long Xuyên.

Bà Pha Ty M phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm là 3.057.271 đồng (Ba triệu không trăm năm mươi bảy nghìn hai trăm bảy mươi mốt đồng) tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Long Xuyên.

Ngân hàng Thương mại Cổ phần V được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng, bà Pha Ty M được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư ngụ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ