vanban.org

Bản án 82/2019/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 28/03/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/03/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của ông Văn Thanh H.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 151/2018/DS-ST ngày 30-10-2018 của Tòa án nhân dân thành phố C. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N. Buộc ông Văn Thanh H và bà Phan Kim T2 bồi thường ông Nguyễn Văn N, bà Phạm Thị T1 số tiền 26.664.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Nguyễn Văn N - Văn Thanh H"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Văn Thanh H.
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2019/DS-PT
Ngày: 28 - 3 - 2019
V/v tranh chấp bồi thường thiệt hại do
công trình xây dựng khác gây ra

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Lập

Ông Nguyễn A Đam

- Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Nhớ, là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Răng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 05 và 28 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 288/2018/TLPT-DS ngày 14 tháng 12 năm 2018 về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do công trình xây dựng khác gây ra”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 151/2018/DS-ST ngày 30/10/2018 của Tòa án nhân dân thành phố C bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 38/2019/QĐ-PT ngày 11 tháng 02 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1954 (có mặt)

Địa chỉ: số 145D, hẻm 146, đường Nguyễn Tất T, khóm 8, phường 8, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Ông Văn Thanh H, sinh năm 1971 (có mặt)

Địa chỉ: số 135D, đường Nguyễn Tất T, khóm 8, phường 8, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan :

- Bà Phạm Thị T1, sinh năm 1959 (có mặt)

Địa chỉ: số 145D, hẻm 146, đường Nguyễn Tất T, khóm 8, phường 8, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

- Bà Phan Kim T2, sinh năm 1972. Cùng địa chỉ ông H. Người đại diện hợp pháp của bà T2 là ông Văn Thanh H (Văn bản ủy quyền ngày 02/7/2018).

- Người kháng cáo: Ông Văn Thanh H – Bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn ông Nguyễn Văn N trình bày:

Năm 2014 ông có xây dựng căn nhà cấp 4, diện tích ngang 7m, dài 18m, tọa lạc tại hẻm 146, Nguyễn Tất T, khóm 8, phường 8, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Khi xây dựng nhà không có giấy phép xây dựng. Đến năm 2017 ông Văn Thanh H xây dựng hàng rào kiên cố cao 4m sát vách nhà sau của ông và quá trình xây dựng ông H cho xe lu vào hẻm cán nền gây rung chuyển và nứt vách tường nhà ông, làm cho nhà bị xuống cấp trầm trọng như: Nhà sau có hai vết nứt dài 5 phân, hồ nước bị lún không còn sử dụng được và cửa bị nứt dài. Ông có yêu cầu ông H xây dựng lại vách tường phía sau và khắc phục các vết nứt nhưng ông H không đồng ý. Nay ông yêu cầu ông H bồi thường thiệt hại cho ông tổng số tiền là 70.000.000 đồng, ngoài ra ông không yêu cầu gì khác.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn yêu cầu bồi thường theo giá trị kiểm định là 44.440.000đồng.

- Bị đơn ông Văn Thanh H trình bày:

Việc ông N cho rằng ông xây hàng rào làm nứt vách nhà ông N là không đúng, vì năm 2017 ông xây dựng hàng rào là trên phần đất của ông, còn việc nhà bị nứt là do nhà ông N có nhiều vết nứt củ và xây dựng nhà trên đất nông nghiệp, không có giấy phép xây dựng nên ông N khởi kiện yêu cầu bồi thường 70.000.000 đồng là không hợp lý vì thiệt hại của ông N không liên quan gì đến ông. Do đó ông không đồng ý theo yêu cầu của ông N.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 151/2018/DS - ST ngày 30/10/2018 của Tòa án nhân dân thành phố C đã quyết định:

Căn cứ Điều 174, 605 Bộ luật dân sự; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 8 thông tư 05/2015/TT-BXD ngày 30/10/2015 của Bộ xây dựng; điểm d Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N. Buộc ông Văn Thanh H và bà Phan Kim T2 bồi thường ông Nguyễn Văn N, bà Phạm Thị T1 số tiền 26.664.000 đồng.

Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn N khởi kiện anh Văn Thanh H số tiền chênh lệch là 17.776.000 đồng.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 12/11/2018 ông Văn Thanh H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, buộc bồi thường 26.664.000đ là chưa thỏa đáng.

Tại phiên tòa, người kháng cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.

Về nội dung: Áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của ông H, sửa bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về thủ tục tố tụng: Ngày 05/3/2019, Tòa án mở phiên tòa xét xử và tạm ngừng phiên tòa vì lý do thu thập chứng cứ. Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho ông Văn Thanh H Quyết định tạm ngừng phiên tòa và ấn định thời gian mở phiên tòa lúc 7 giờ 30 phút ngày 28/3/2019 nhưng ông H vắng mặt không lý do.

. Xét yêu cầu kháng cáo: Ông H kháng cáo với nội dung không đồng ý với toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm vì buộc phải bồi thường cho ông N 26.664.000 đồng là chưa thỏa đáng. Và không thống nhất với toàn bộ nội dung bản án.

- Đối với yêu cầu kháng cáo về khoản tiền bồi thường: Qua xem xét toàn bộ chứng cứ nhận thấy: Năm 2014, ông N xây dựng căn nhà cấp 4 trên phần đất thuộc tờ bản đồ số 33, thửa 90 tọa lạc số 146, đường Nguyễn Tất T, phường 8, thành phố C do Nguyễn Văn N, Lê Thị T đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tháng 3/3017, ông H xây dựng hàng rào cao khoảng 4m trên phần đất ông H sát vách nhà sau của ông N. Về việc nhà của ông N bị hư hỏng là thực tế có xảy ra được xác định tại báo cáo kết quả kiểm định chất lượng công trình (từ bút lục số 62 – 102). Để xác định nguyên nhân dẫn đến thiệt hại, thì Trung tâm quy hoạch và kiểm định xây dựng của Sở xây dựng tỉnh Cà Mau có văn bản trả lời không thực hiện phần nguyên nhân gây ra thiệt hại vì phải khảo sát địa chất, nền móng công trình...rất tốn kém chi phí; không có hồ sơ kiểm tra hiện trạng và ghi nhận các khuyết tật của công trình liền kề, lân cận trước khi xây dựng; và đồng thời các bên đương sự cũng không có yêu cầu giám định. Những thiệt hại của nguyên đơn không phải ngẫu nhiên mà có, với các chứng cứ đã thu thập xác định được nguyên nhân và lỗi dẫn đến thiệt hại, theo đó nguyên đơn và bị đơn đều có lỗi.

Về phía nguyên đơn xây dựng nhà cấp 4 không xin phép cơ quan có thẩm quyền theo quy định, xây dựng nhà trên đất nông nghiệp.

Về phía bị đơn, tuy có giấy phép xây dựng nhưng xây dựng công trình sai vị trí được ông H thừa nhận tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm và được thể hiện tại biên bản kiểm tra xây dựng ngày 01/6/2018 của Ủy ban nhân dân phường 8, thành phố C và Ủy ban đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với ông H số tiền 1.500.000 đồng. Trước khi xây dựng công trình, ông H không thực hiện theo quy định tại Điều 174 của Bộ luật dân sự và Điều 8 của Thông tư số: 05/2015/TT-BXD ngày 30/10/2015 của Bộ xây dựng đó là: “Trước khi thi công xây dựng, chủ nhà chủ động liên hệ với chủ sở hữu hoặc người quản lý, sử dụng công trình liền kề, lân cận để kiểm tra hiện trạng và ghi nhận các khuyết tật của công trình liền kề, lân cận...”, pháp luật quy định chủ công trình phải kiểm tra hiện trạng của công trình lân cận nhưng ông H không kiểm tra trước khi xây dựng công trình của mình mà cho rằng thiệt hại của phía nguyên đơn không phải lỗi từ ông là thiếu căn cứ. Bởi vì không chỉ một hộ của ông N mà 07 hộ có nhà dọc theo vách tường đều bị thiệt hại cùng thời điểm sau khi ông H xây dựng hàng rào, xây dựng công trình. Các hộ dân xác định trước khi ông H xây dựng thì nhà của họ không bị nứt, không bị thấm, không bị xé tường...; qua xem xét thực tế hàng rào ông H xây dựng cao gần bằng nóc nhà của các hộ dân, khoảng cách từ hàng rào trở ra khoảng 01m ông H đóng cừ sạn và từ đó câu sắt đến hàng rào; mặt khác ông H san lắp mặt bằng cao gần 01m đã đưa xe lu xử lý mặt bằng, với những tác động này đã gây ảnh hưởng đến các căn nhà sát hàng rào. Ngoài ra, tại biên bản “bồi hoàn thiệt hại nhà ở” do chính quyền khóm 8 , phường 8, thành phố C lập có 07 hộ dân bị thiệt hại và có ông H tham dự, ông H trình bày ý kiến “cho thợ lại sửa, khắc phục những vết nứt tường, lún nền, trả lại hiện trạng ban đầu”. Qua đó cho thấy ban đầu ông H nhận thấy cũng có lỗi đối với thiệt hại của nguyên đơn nên ông mới đồng ý với 07 hộ dân về việc khắc phục để trả lại hiện trạng ban đầu.

Số tiền được thẩm định là 44.440.000 đồng, cấp sơ thẩm căn cứ vào thiệt hại thực tế và mức độ lỗi của mỗi bên, nên buộc ông H bồi thường với mức độ 60% bằng 26.664.000 đồng, nguyên đơn chịu 40% là phù hợp.

Vì vậy, kháng cáo của ông H về việc xem xét số tiền bồi thường không được chập nhận.

. Từ những nhận định trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông H, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 153/2018/DS-ST ngày 31-10-2018 của Tòa án nhân dân thành phố C.

. Ngày 05/3/2019 Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để thu thập chứng cứ, Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ. Ông N chịu chi phí 200.000 đồng, đã nộp đủ.

. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau: Chấp nhận kháng cáo, sửa án sơ thẩm bát yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ kháng cáo như những căn cứ phân tích trên.

. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông H phải chịu, được đối trừ đã nộp tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Văn Thanh H.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 151/2018/DS-ST ngày 30-10-2018 của Tòa án nhân dân thành phố C.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N. Buộc ông Văn Thanh H và bà Phan Kim T2 bồi thường ông Nguyễn Văn N, bà Phạm Thị T1 số tiền 26.664.000 đồng.

2. Không chấp nhận yêu cầu của ông N về khởi kiện buộc ông H thanh toán số tiền chênh lệch là 17.776.000 đồng.

Kể từ ngày ông N có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông H và bà T2 không thi hành khoản tiền nêu trên thì còn phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tại thời điểm thanh toán tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.

3. Về chi phí xem xét thẩm định tại cấp phúc thẩm 200.000 đồng, ông N chịu, đã nộp đủ.

4. Về án phí:

- Án phí sơ thẩm: Ông H, bà T2 phải chịu 1.333.000 đồng (chưa nộp); ông N được miễn, đã dự nộp 1.750.000 đồng tại Biên lai số 0002408 ngày 15/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C được nhận lại toàn bộ.

- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông H phải chịu 300.000 đồng, ngày 12/11/2018 ông Văn Thanh H đã dự nộp 300.000 đồng tại Biên lai thu số 0001600 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C được đối trừ.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ