- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Văn C (Cu H) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐL TỈNH LĐ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 82/2018/HSST Ngày: 02/7/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐL - TỈNH LĐ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Chu Văn Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Ha Tông
+ Ông Vương Xuân Tượng
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hương – Thư ký Toà án nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Kiền - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 72/2018/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2018/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2018 đối với:
- Bị cáo: Đoàn Văn C (Tên gọi khác: Cu H), sinh năm: 1994, tại LĐ; Nơi ĐKHKTT: A1-C5 đường N.T.T, Phường D, thành phố ĐL, tỉnh LĐ; Chỗ ở: A1-C5 đường N.T.T, Phường D, thành phố ĐL, tỉnh LĐ; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 5/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Con ông Đoàn Văn H, sinh năm 1968; Con bà Phạm Thị Bích Th, sinh năm: 1973; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình.
Tiền án; Tiền sự: không;
Nhân thân: Tại bản án số 136/2013/HSST ngày 30/9/2013 của Tòa án nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ xử phạt Đoàn Văn C 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị bắt ngày 19/3/2018. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại:
+ Chị Đào Nguyễn Thảo V (N), sinh năm: 1988.
Nơi cư trú: Số 68 đường Đ.D.T, Phường D, thành phố ĐL, tỉnh LĐ. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Phạm Thanh Ng, sinh năm: 1989.
Nơi cư trú: Số 36/7 đường Ng.V.T, Phường A, thành phố ĐL, tỉnh LĐ. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 27/01/2018, Đoàn Văn C đi từ nhà tại A1-C5 N T T, phường D, ĐL đến quán Internet Châu Giang trên đường Đ.D.T, phường D, ĐL để chơi game. Khi đi qua nhà số 76 Đ.D.T, C phát hiện 01 xe máy hiệu Suzuki màu đỏ đen biển số 49F1-162.54 để bên hông nhà không có người trông coi nên C nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe máy trên đem bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định, C lấy chìa khóa nhà mang theo cắm vào ổ khóa vặn mạnh thì mở được khóa xe Cảnh khởi động xe nổ máy và điều khiển về nhà tại A1-C5 Nguyễn Trung Trực, phường 4, ĐL rồi C gọi điện thoại cho Phạm Thanh Ng nói “có xe rồi, anh lên coi có lấy được không” (Trước đó, khoảng tháng 12/2017 Ng có nhờ C hỏi mua dùm cho Ng một chiếc xe Suzuki như loại trên và đã đặt cọc trước cho C 5.000.000đ). Sau đó, C tháo hết dàn nhựa xe, biển số xe máy 49F1-162.54 rồi đem biển số trên vứt tại khu vực cầu A.B, phường C, ĐL để mọi người không biết là xe do C trộm cắp. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, Ng đến xem xe, thấy xe không có dàn nhựa và không có biển số nên hỏi C “xe lấy ở đâu, có phải xe ăn cắp thì trả lại cho người ta đi” thì C khẳng định xe này do C mua của bạn dưới Nha Trang mới chuyển lên xong. Nghe vậy Ng tin tưởng và đồng ý mua xe của C với giá 12.000.000đ, Ng đưa thêm cho C 4.000.000đ còn nợ lại 3.000.000đ. Ngày 30/01/2018, Cơ quan C sát điều tra Công an thành phố ĐL triệu tập C lên làm việc, C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng thu giữ: 01 xe máy hiệu Suzuki màu đỏ đen, số máy 100598, số khung 100598. Ngày 06/02/2018, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố ĐL xác định xe máy trên có giá trị 8.700.000đ.
Tại bản cáo trạng số 75/CT-VKS ngày 21/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL truy tố Đoàn Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo nên đề nghị áp dụng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại phiên tòa,
Bị cáo Đoàn Văn C không khiếu nại bản cáo trạng và khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị về hình phạt:
- Áp dụng Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Đoàn Văn C mức hình phạt từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 19/3/2018;
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã thu giữ và trả lại cho người bị hại là chị Đào Nguyễn Thảo V. Tại phiên tòa chị V, xác định khi nhận lại xe thì xe đã bị mất các chi tiết vỏ nhựa, mất biển kiểm soát và hư hỏng ổ khóa điện nên chị yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho chị số tiền 10.000.000 đồng; Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của chị V.
Đối với số tiền 9.000.000 đồng mà anh Phạm Thanh Ng đã trả tiền mua xe của bị cáo, anh Ng vắng mặt tại nơi cư trú, cơ quan điều tra và Tòa án đã tiến hành triệu tập anh Ng để làm việc và tham gia phiên tòa, tuy nhiên anh Ng vắng mặt nên chưa có yêu cầu cụ thể.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã xử lý xong về vật chứng;
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Lời nói sau cùng của bị cáo tại phiên tòa: bị cáo đã ăn năn hối lỗi, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố ĐL, tỉnh LĐ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL, tỉnh LĐ và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được tiến hành hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ nhận thức, bị cáo biết rất rõ việc lợi dụng sơ hở để lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi trái pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, tài sản bị cáo trộm cắp của những người bị hại là 01 xe máy hiệu Suzuki màu đỏ đen biển số 49F1-162.54, số máy 100598, số khung 100598 qua định giá xác định có giá trị là 8.700.000đ, hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trái pháp luật đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phương.
Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Có đủ căn cứ kết luận bị cáo Đoàn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo là người đã từng bị kết án về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã được xóa án tích nhưng lại tiếp tục phạm tội, Viện kiểm sát nhân dân thành phố ĐL truy tố bị cáo với tình tiết định khung hình phạt quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Bị cáo phạm tội không thuộc trường hợp có tình tiết tăng nặng.
Khi quyết định hình phạt có xem xét bị cáo đã thành khẩn khai báo nên áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, chị Đào Nguyễn Thảo V yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền đã sửa chữa xe là 10.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận, buộc bị cáo phải bồi thường cho chị V số tiền 10.000.000 đồng.
Đối với số tiền 9.000.000 đồng mà anh Phạm Thanh Ng đã trả tiền mua xe của bị cáo, anh Ng vắng mặt tại phiên tòa và trong hồ sơ vụ án chưa có yêu cầu cụ thể của anh Ng nên tách ra để giải quyết bằng một vụ án dân sự khác khi anh Ng có yêu cầu.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về việc áp dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Miễn án phí dân sự cho bị cáo do có hoàn cảnh kinh tế khó khăn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Văn C (Cu H) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: bị cáo Đoàn Văn C 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 19/3/2017.
[2] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự năm 2015
Buộc bị cáo Đoàn Văn C phải bồi thường cho chị Đào Nguyễn Thảo V số tiền 10.000.000 đồng.
Tách phần trách nhiệm dân sự có liên quan giữa anh Phạm Thanh Ng với bị cáo Đoàn Văn C để giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi anh Phạm Thanh Ng có yêu cầu.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự.
[3] Về án phí: Buộc bị cáo Đoàn Văn C phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh LĐ xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai. Người liên quan chỉ được quyền kháng cáo phần có liên quan./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh LĐ; - VKSND thành phố ĐL; - Sở tư pháp tỉnh LĐ; - Công an thành phố ĐL; - Thi hành án thành phố ĐL; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Bộ phận theo dõi thi hành án phạt tù; - Lưu. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ha Tông - Vương Xuân Tượng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đã ký Chu Văn Bình Chu Văn Bình |