- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Duy Cường - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Duy C phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 82/2018/HSST Ngày: 18/7/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - TP. HỒ CHÍ MINH
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Huỳnh Hoàng Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Phạm Văn Huấn
2/ Bà Huỳnh Thị Hồng Thúy
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Hương Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phan Ngọc Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 82/2018/HSST ngày 19 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2018/HSST-QĐXX ngày 04 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: TRẦN DUY C; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1979 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 72/91/5 V, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 72/91/5 V, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 8/12; Con ông Trần Văn S và bà Phạm Thị L; Tiền án: Ngày 28/5/2015 bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 84/2015/HSST; Tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/4/2018;
(bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Người bị hại: Anh Nguyễn Văn X, sinh năm: 1991 địa chỉ 740 L, phường T, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh;
(vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 02/4/2018 Trần Duy C điều khiển xe đạp đến trước kios 6B tại số 740 L, phường T, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh do anh Nguyễn Văn X làm chủ thì thấy trong kios có để một máy cắt nhôm hiệu Makita LS1030N màu xanh cách cửa ra vào khoảng 06 mét, không người trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. C để xe đạp trước cửa rồi đi vào lấy trộm máy cắt mang ra ngoài để trên baga xe đạp thì bị anh X cùng các nhân viên trong kios phát hiện bắt quả tang giao Công an phường Tân Thành xử lý.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 100/KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 27/4/2018 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận Tân Phú thì máy cắt nhôm hiệu Makita LS1030N màu xanh có giá trị 2.000.000 (hai triệu) đồng.
* Vật chứng:
- 01 (một) máy cắt nhôm hiệu Makita LS1030N màu xanh, đã trả lại cho người bị hại là anh Nguyễn Văn X, anh X không có yêu cầu gì khác;
- 01 (một) xe đạp hiệu Thành Đạt màu bạc (hiện đang nhập kho vật chứng);
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Duy C đã thừa nhận hành vi phạm tội và khai nhận như cáo trạng đã nêu.
Bản cáo trạng số 90/CT-VKSQTP ngày 18 tháng 6 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Duy C về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay cũng như xem xét các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Duy C về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đồng thời đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại – anh Nguyễn Văn X đã nhận lại tài sản và không có thắc mắc, yêu cầu gì nên không có gì để giải quyết.
Bị cáo Trần Duy C nói lời sau cùng: Bị cáo hối hận về việc làm của mình, mong Hội đồng xét xử xét xử một mức án nhẹ để bị cáo có cơ hội sửa sai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người bị hại, người làm chứng, cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Duy C đã có hành vi lén lút chiếm đoạt một máy cắt nhôm hiệu Makita qua định giá có giá trị 2.000.000 đồng của anh Nguyễn Văn X đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bản thân bị cáo đã có một tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội “Trộm cắp tài sản”, lần phạm tội này được xác định là “tái phạm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó vừa trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo hộ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác bị pháp luật ngăn cấm và bị trừng trị nhưng do động cơ tham lam, muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm một cách liều lĩnh, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Bản thân bị cáo có nhân thân rất xấu, nhiều lần bị kết án nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo có thái độ coi thường pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn thật nghiêm khắc, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
Do bị cáo hiện đang chấp hành hình phạt 09 (chín) tháng tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 41/2018/HSST ngày 09/11/2017 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh nên cần tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án.
Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xét các tình tiết: Tài sản mà bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi lại trả cho người bị hại đầy đủ nên chưa gây ra thiệt hại, tại cơ quan điều tra và trước phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa, bị hại là anh Nguyễn Văn X vắng mặt nhưng căn cứ vào hồ sơ vụ án xét thấy bị hại đã nhận lại tài sản và không còn có yêu cầu, thắc mắc, khiếu nại gì nên Hội đồng xét xử không có gì phải giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) xe đạp hiệu Thành Đạt màu bạc (hiện đang nhập kho vật chứng). Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo sử dụng xe đạp vào mục đích phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước;
Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại Khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và phạm tội ít nghiêm trọng. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Trần Duy C phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm h, s Khoản 1 Điều 51, Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử phạt:
Trần Duy C 12 (mười hai) tháng tù.
Tổng hợp với hình phạt 09 (chín) tháng tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 41/2018/HSST ngày 11/4/2018 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 21 (hai mươi mốt) tháng tù.
Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 02/4/2018.
Miễn khoản tiền phạt bổ sung cho bị cáo.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước một (01) xe đạp màu bạc hiệu Thành Đạt (Tình trạng vật chứng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 122/PNK ngày 06/4/2018 của Công an quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh;
Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo; bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt, niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người bị hại; - Công an Q. Tân Phú; - VKSND Q. Tân Phú; - Chi cục THADS Q. Tân Phú; - TAND TP. Hồ Chí Minh; - Phòng PC27 CATP. HCM; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Huỳnh Hoàng Phương |