- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hùng Cẩm Phương - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 82/2018/HS-PT Ngày: 04-4-2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Quốc Chiến
Các Thẩm phán: Ông Phan Văn Thuấn
Ông Phạm Đình Thi
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thùy – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 02 và ngày 04 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2018/TLPT-HS ngày 11 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Hùng Cẩm Ph do có kháng cáo của bị cáo và người bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm 40/2017/HS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
- Bị cáo có kháng cáo và bị kháng cáo:
Nguyễn Hùng Cẩm Ph, sinh năm: 1994. Nơi sinh: huyện A, Kiên Giang. Nơi cư trú: ấp K, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ, tôn giáo: Không, quốc tịch: Việt Nam, con ông Nguyễn Hùng D và bà Lưu Thị Ph; chồng: Nguyễn Hoài A và 01 người con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại. (Có mặt).
- Người bị hại có kháng cáo:
Bà Nguyễn Tâm Hồng Nh, sinh năm 1988.
Nơi cư trú: Lô F12, số 29-33, đường 3/2, phường V, TP R, tỉnh Kiên Giang. (Có mặt)
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại:
Luật sư Vũ Diệu H – Trung tâm tư vấn pháp luật – Hội luật gia tỉnh Kiên Giang (Có mặt).
- Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Hoài A, sinh năm 1989. (Có mặt)
Nơi cư trú: Ấp K, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
2. Ông Nguyễn Hùng T, sinh năm 1963. (Có mặt)
Nơi cư trú: Lô F12, số 29-33, đường 3/2, phường V, TP R tỉnh Kiên Giang.
3. Chị Nguyễn Thị U, sinh năm 1971. (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Lô F12, số 29-33, đường 3/2, phường V, TP R tỉnh Kiên Giang.
4. Ông Nguyễn Hùng D, sinh năm 1971. (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp K, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
5. Chị Nguyễn Thị Xuân Ph, sinh năm 1970. (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp K, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 22/10/2016, gia đình Nh từ thành phố R, tỉnh Kiên Giang về ấp K, xã T, huyện A để làm đám cúng tuần cho ông nội Nh. Khi đó Hồng Nh đi bộ lại nhà chú ruột Nguyễn Hùng D (cha ruột Nguyễn Hùng Cẩm Ph) để tìm Cẩm Ph hỏi việc nhắn tin nói xấu. Khi bước vào sân nhà ông D thì Nh gặp Nguyễn Hoài A (chồng Cẩm Ph) đang làm việc nhà, Nh hỏi Ph ở đâu thì Hoài A nói Ph đang ở trong nhà trông con, nên Nh đi vào. Khi nghe tiếng Nh hỏi, Ph từ trong nhà đi ra và gặp Nh, Nh kêu Ph đi ra nói chuyện, Ph không đồng ý và cả hai cự cải với nhau. Nh đi vào nhà Ph chỗ bàn bi da thì cả hai tiếp tục cự cải với nhau qua lại, rồi xông vào đánh nhau. Cả hai dùng tay, chân đánh nhau qua lại. Lúc này Hoài A đứng dọn củi gần đó thấy cả hai đánh nhau nên chạy lại can ngăn, Nh bị thương ở mặt chảy máu nên Nh lấy cây chổi lao nhà đánh vào người Ph nhiều cái và lúc này Hoài A lại can ngăn và đở cho vợ bị Nh đánh trúng vào người. Liền lúc này thì có mọi người trong gia đình chạy đến can ngăn, sự việc mới dừng lại. Sau khi đánh nhau với Nh, Ph cũng phát hiện mình bị thương ở hai cẳng tay.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 cây chổi lau nhà cán bằng kim loại màu trắng (hình tròn) có kích thước 1,1m, phần tay cầm trên có kích thước 14,3cm bằng nhựa có màu xanh bị nứt. Phần tay cầm dưới có kích thước 20cm x 17,6cm bằng nhựa có màu xanh. Mặt ngang của chổi lau bằng nhựa màu trắng đục có kích thước 13,7cm x 0,34cm.
Kết luận giám định pháp y của Trung tâm pháp y Kiên Giang tại Công văn số 593/KL-PY ngày 10/11/2016 đối với thương tích của Nguyễn Tâm Hồng Nh tỷ lệ tổn thương cơ thể do các thương tích trên gây nên hiện tại là 12% (Mười hai phần trăm).
Về thẩm mỹ: Thương tích gây ảnh hưởng thẩm mỹ mức độ ít, nhưng có khả nặng hồi phục nếu được điều trị tốt.
* Kết luận giám định pháp y của Trung tâm pháp y Kiên Giang tại Công văn số 594/KL-PY ngày 10/11/2016 đối với thương tích của Nguyễn Hùng Cẩm Ph tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 03% (Ba phần trăm).
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 40/2017/HSST ngày 15/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hùng Cẩm Ph phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 104; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47 và Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hùng Cẩm Ph 03 (ba) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Hùng Cẩm Ph phải bồi thường cho người bị hại Nguyễn Tâm Hồng Nh số tiền điều trị 60.000.000 đồng và tiền vé xe đi lại trong quá trình điều trị là 5.000.000 đồng.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và báo quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 27/11/2017, bị cáo Nguyễn Hùng Cẩm Ph có đơn kháng cáo với nội dung kêu oan.
Ngày 29/11/2017, người bị hại Nguyễn Tâm Hồng Nh có đơn kháng cáo với nội dung yêu cầu tăng mức án, tăng bồi thường thiệt hại.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hùng Cẩm Ph thừa nhận đã dùng tay gây thương tích cho người bị hại Nguyễn Tâm Hồng Nh nhưng bị cáo cho rằng thương tích của người bị hại 12% là không đúng. Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện An Biên đã xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự là oan cho bị cáo, không đồng ý bồi thường cho người bị hại và giữ nguyên nội dung kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo.
Người bị hại Nguyễn Tâm Hồng Nh cho rằng cấp sơ thẩm xử bị cáo Phương 3 tháng tù là nhẹ, yêu cầu cấp phúc thẩm tăng án và tăng mức bồi thường thiệt hại.
Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt ba tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm. Về trách nhiệm dân sự, buộc bị cáo bồi thường cho người bị hại 38.200.000 đồng.
*Luật sư bảo vệ cho người bị hại trình bày quan điểm:
Luật sư không đồng ý quan điểm đề nghị của vị đại diện viện kiểm sát. Giữa bị cáo và người bị hại là con chú bác ruột, lúc đầu bị hại không thưa bị cáo nhưng chính bị cáo là người đi thưa trước, ở cấp sơ thẩm hòa giải cũng chính bên bị cáo khăng khăng không chịu. Từ đầu đến cuối bị cáo không hề tỏ ra ăn hối cải còn đưa ra những tình tiết làm phức tạp thêm vụ án. Bị cáo kêu oan nghĩa là không có tội, Kiểm sát viên lại đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo là không tương xứng. Người bị hại chỉ đến nhà bị cáo để hỏi chuyện chứ không gây chuyện. Bị hại bị thương tích ngay trên vùng mặt ảnh hưởng thẫm mỹ và còn ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý. Bị cáo không đủ điều kiện để được hưởng án treo. Về phần trách nhiệm bồi thường: Chi phí điều trị của người bị hại là theo lộ trình trọn gói chứ không liên quan tới việc điều trị của em bị cáo; về tiền xe, bị hại bị thương tích ở mặt, ngại tiếp xúc bên ngoài, và phải tránh bụi bặm nên phải bao thuê xe đi là hợp lý; về khoản tiền mất thu nhập, bị hại là giám đốc công ty, việc bị hại bị thương đã phải đóng cửa công ty gần một năm, việc yêu cầu bồi thường khoản tiền mất thu nhập và tổn thất tinh thần là phù hợp quy định của pháp luật. Mong Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo:
Xét đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hùng Cẩm Ph và người bị hại Nguyễn Tâm Hồng Nh về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
Về Quyết định của bản án sơ thẩm: Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 22/10/2016, tại nhà của Nguyễn Hùng Cẩm Ph ở ấp K, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang, bị cáo Nguyễn Hùng Cẩm Ph đã dùng tay cào vào vùng mặt của người bị hại Nguyễn Tâm Hồng Nh. Hậu quả Nh bị thương tích 12%. Hành vi của bị cáo Nguyễn Hùng Cẩm Ph là dùng tay gây thương tích cho người bị hại nên bản án sơ thẩm đã áp dụng khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự để xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, không oan cho bị cáo.
Về yêu cầu kháng cáo của bị cáo: Bị cáo kháng cáo kêu oan với lý do người bị hại đến nhà bị cáo gây sự trước, bị cáo chỉ tự vệ và kết quả giám định thương tích của người bị hại 12% là không đúng. Hội đồng xét xử thấy rằng: bị cáo đã có hành vi dùng tay cào vào mặt của người bị hại, thương tích của người bị hại qua giám định là 12%. Bị cáo không đồng ý kết quả giám định trên nhưng Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện An Biên đã có công văn trả lời bị cáo số 33/CQĐT ngày 18/01/2017 việc giám định thương tích của Nguyễn Tâm Hồng Nh là đúng trình tự, thủ tục, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, kháng cáo kêu oan của bị cáo không có cơ sở để chấp nhận. Mức án 03 tháng tù mà tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo và kháng cáo yêu cầu tăng án của người bị hại. Ngày 22/3/2018, bị cáo Nguyễn Hùng Cẩm Ph tiếp tục làm đơn yêu cầu giám định lại thương tích đối với người bị hại Nguyễn Tâm Hồng Nh. Tuy nhiên, thương tích của người bị hại hiện tại đã qua thời gian, qua quá trình điều trị, giám định viên Ngô Minh Trang cũng xác định nếu giám định lại cũng chỉ đánh giá được tại thời điểm hiện tại chứ không đánh giá được tại thời điểm gây án. Vì vậy, không chấp nhận yêu cầu xin giám định lại của bị cáo. Còn về phần trách nhiệm bồi thường: bị cáo dùng tay cào vào mặt người bị hại gây thương tích ở mặt là làm ảnh hưởng thẫm mỹ, theo Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 8 tháng 7 năm 2006 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao thì người bị hại có quyền đi điều trị ở bệnh viện thẩm mỹ, bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường chi phí điều trị cho người bị hại để phục hồi vết thương. Chi phí điều trị hai lộ trình là 63.000.000 đồng, tiền xe tính theo giá xe công cộng là 5.000.000 đồng. Đối với khoản tiền mất thu nhập, Nguyễn Tâm Hồng Nh bị thương tích ở mặt, tuy ảnh hưởng thẫm mỹ nhưng vẫn làm việc được, do đó, tính cho người bị hại Nhung mất thu nhập là hai tháng lương, mỗi tháng 6 triệu đồng, về khoản tiền tổn thất tinh thần, bị cáo gây thương tích cho người bị hại 12% nên tổn thất tinh thần buộc bị cáo bồi thường 02 tháng lương cơ sở (2.600.000 đồng) là phù hợp. Ở đây người bị hại cũng có một phần lỗi nên không buộc bị cáo phải bồi thường hết các chi phí mà buộc bị cáo chịu hai phần ba trên tổng số tiền chi phí điều trị, mất thu nhập và tổn thất về mặt tinh thần là hợp lý. Vì vậy, sửa một phần bản án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự.
Về quan điểm của vị đại diện viện kiểm sát: Vị đại diện viện kiểm sát đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo với lý do: Bị cáo có nhân thân tốt, có nghề nghiệp ổn định, nuôi con dưới 36 tháng tuổi, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có phần lỗi của người bị hại, sau khi xử sơ thẩm bị cáo đã khắc phục được 2.000.000 đồng và buộc bị cáo bồi thường một phần hai chi phí điều trị thương tích, ngày công lao động và tổn thất tinh thần của người bị hại là chưa phù hợp quy định của pháp luật. Mặc dù người bị hại cũng có một phần lỗi là đến nhà bị cáo trước nhưng hành vi của bị cáo đã xâm phạm sức khỏe và làm ảnh hưởng về mặt tinh thần của người bị hại nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian ngắn để giáo dục đối với bị cáo đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội. Về phần bồi thường: Bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình gây ra và phải chịu phần nhiều hơn so với người bị hại. Hội đồng xét xử xét thấy tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo chưa thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, vẫn còn kêu oan, khắc phục số tiền quá ít so với số tiền bị hại đã bỏ ra và các tình tiết khác cấp sơ thẩm đã xem xét nên không có căn cứ chấp nhận lời đề nghị của vị đại diện viện kiểm sát, mà buộc bị cáo chịu hai phần ba trên tổng số tiền chi phí điều trị, mất thu nhập và tổn thất về mặt tinh thần cho người bị hại.
Về quan điểm của luật sư: Luật sư đề nghị không cho bị cáo được hưởng án treo và tăng mức bồi thường trách nhiệm dân sự. Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử đã thảo luận và thấy rằng các Quyết định của bản án sơ thẩm về tội danh và mức hình phạt cho bị cáo Nguyễn Hùng Cẩm Ph là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, về phần trách nhiệm bồi thường sửa một phần bản án sơ thẩm.
Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000 đồng. Người bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Từ ngày 01/01/2018 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có hiệu lực thi hành, hành vi của bị cáo Nguyễn Hùng Cẩm Ph bị xử phạt, các tình tiết giảm nhẹ so sánh giữa Bộ luật hình sự năm 1999 và Bộ luật hình sự năm 2015 có khung hình phạt bằng nhau nên Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giải quyết vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Sửa bản án sơ thẩm.
2. Áp dụng: khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hùng Cẩm Ph 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự 2015, Điều 590 Bộ luật dân sự.
Các khoản chi phí của người bị hại được tính như sau:
- Chí phí điều trị hai lộ trình: 63.000.000 đồng
- Tiền xe đi lại: 5.000.000 đồng
- Mất thu nhập hai tháng: 12.000.000 đồng
- Tiền tổn thất tinh thần hai tháng lương cơ sở: 2.600.000 đồng.
Tổng cộng các khoản là: 82.600.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Hùng Cẩm Ph phải bồi thường cho người bị hại là hai phần ba của tổng số tiền trên tức là bằng 55.066.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường được 2000.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện an Biên theo biên lai thu tiền số 02286 ngày 28/3/2018. Bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho người bị hại là 53.066.000 đồng.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất bằng mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH14.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Người bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Trả lại cho người bị hại Nguyễn Tâm Hồng Nh 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu tiền số 0007167 ngày 30/11/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
4. Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 40/2017/HS-ST ngày 15/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND cấp cao tại TPHCM. - TAND cấp cao tại TPHCM. - VKSND tỉnh. - Trại tạm giam KG. - Sở tư pháp - TAND huyện - THA huyện - VKSND huyện - Bị cáo. -Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Cao Quốc Chiến |