- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn P, 82 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lường Văn P phạm tội: Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 82/2018/HS-ST Ngày 23/8/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Hữu và ông Lò Văn Khánh;
- Thư ký phiên tòa: Ông Giàng A Tằng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên toà: Ông Lường Văn Doan, Kiểm sát viên.
Vào hồi 13 giờ 30 phút ngày 23 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 81/2018/TLST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2018/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lường Văn P; tên gọi khác: Không; sinh năm 1982; tại xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; nơi cư trú: Bản L, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hoá: Lớp 2/12; con ông: Lường Văn P, đã chết và con bà: Lường Thị U, sinh năm 1945; bị cáo chung sống như vợ chồng với chị Lường Thị L, có 01 người con chung và sống chung như vợ chồng với chị Lường Thị T, có 02 người con chung; tiền sự: Không; tiền án: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 30/5/2018 đến ngày 02/6/2018 và bị tạm giam từ ngày 02/6/2018 cho đến nay. Bị cáo được trích xuất áp giải và có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Họ và tên: Hoàng Văn N; tên gọi khác: Không; sinh năm 1959; nơi cư trú: Bản T, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 30/5/2018; Lường Văn P một mình đi bộ từ khu vực trung tâm thị trấn T đến khu vực xã Q với mục đích đi tìm nhà người dân sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đến khu vực bản T, xã Q, huyện Tuần Giáo; P phát hiện gia đình ông Hoàng Văn N; sinh năm 1959; trú tại Bản T, xã Q không có cổng, cửa nhà khóa. P quan sát xung quanh thấy không có ai, P liền đi vào phía bên trong, đi xung quanh nhà để tìm lối chui vào nhà. Khi đến cửa nách của căn nhà, P quan sát qua khe cửa, thấy cửa nách bên trong không có chốt ngang. P nghĩ chốt cửa là chốt dọc nên P thò tay xuống khe hở rộng khoảng 15cm bên dưới thanh xà của cửa nách; khi luồn tay vào bên trong P sờ thấy chốt dọc và dùng tay kéo chốt lên để mở cửa. Khi vào được nhà, P thấy 01 bao tải xác rắn màu xanh bên trong có 06kg gạo để bên cạnh giường ngủ; P liền lấy gạo và tiếp tục quan sát thì thấy 02 chiếc máy tính bảng để ở đầu giường ngủ. P liền lấy 02 chiếc máy tính bảng đó cho vào túi gạo rồi theo lối cũ đi ra ngoài. Khi đi được khoảng 10m thì bị ông N là chủ nhà cùng Công an xã Q phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tài sản Phòng trộm cắp. Khi bị bắt và lập biên bản P đã khai tên là Lường Văn T ở bản C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên nhằm gây khó khăn cho cơ quan điều tra. Sau khi lập biên bản, P cùng vật chứng được đưa về Cơ quan điều tra để làm rõ.
Ngày 30/5/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Tuần Giáo đã ra Yêu cầu định giá tài sản số: 97. Tại bản Kết luận giá trị tài sản số: 16/KL-ĐGTS ngày 31/5/2018 của Hội đồng định giá tài sản đã kết luận: 01 máy tính bảng nhãn hiệu ASUS P01V màu trắng, còn mới chưa qua sử dụng, có giá trị là 4.000.000đ. Vậy giá trị còn lại của 01 máy tính bản nhãn hiệu ASUS đã qua sử dụng là 4.000.000đ × 60% = 2.400.000đ (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng). 01 máy tính bảng nhãn hiệu Lenovo A3300-GV màu vàng đen, còn mới chưa qua sử dụng, có giá trị là 2.000.000đ. Vậy giá trị còn lại của 01 máy tính bản nhãn hiệu Lenovo A3300-GV màu vàng đen đã qua sử dụng là 2.000.000đ × 60% = 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng). 06 kilogam gạo nếp Thái có giá trị 18.000đ/kg. Vậy giá trị 06kg × 18.000đ = 108.000đ (Một trăm linh tám nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản được định giá là: 3.708.000đ (Ba triệu bảy trăm linh tám nghìn đồng).
Tại Cáo trạng số: 60/CT-VKS-TG ngày 06 tháng 8 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Lường Văn P về hành vi Trộm cắp tài sản. Tại phiên tòa Vị kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lường Văn P phạm tội Trộm cắp tài sản và áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Lường Văn P từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Áp dụng khoản 5 Điều 173 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo vì bị cáo nghiện ma túy. Phần bổi thường thiệt hại do người bị hại không yêu cầu nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét;
Tại đơn đề nghị của bị hại, ông Hoàng Văn N đã nhận được tài sản vì vậy không đề nghị bị cáo phải bồi thường thiệt hại. Về hình phạt đề nghị giải quyết theo quy định của Pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận phạm tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo cũng chấp nhận giá trị tài sản là 3.708.000đ và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị cáo Lường Văn P thừa nhận: Vào 09 giờ ngày 30/5/2018, lợi dụng sự sơ hở bị cáo Phòng đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp 01 máy tính bảng nhãn hiệu ASUS POIV màu trắng; 01 máy tính bảng nhãn hiệu Lenovo A3300 màu vàng đen; 06 kg gạo nếp Thái; tổng giá trị tài sản trộm cắp là 3.708.000đ (Ba triệu bảy trăm linh tám nghìn đồng) của ông Hoàng Văn N; trú tại: Bản T, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên. Mục đích trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu phục vụ mục đích cá nhân của bị cáo. Xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, phù hợp nội dung Kết luận điều tra và Cáo trạng. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lường Văn Phòng đã phạm tội Trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố và kiểm sát viên luận tội là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của ông Hoàng Văn N được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Từ hành vi của bị cáo còn thấy sự táo bạo, ngang nhiên chiếm đoạt tài sản. Bởi vậy, cần phải đưa ra mức án thật nghiêm khắc mới có tác dụng răn đe phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên được bố mẹ cho đi học đến lớp 2/12 ở nhà lao động sản xuất. Năm 2012 bị Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử tuyên phạt 18 tháng tù về tội Chống người thi hành công vụ; đến ngày 21/6/2013 chấp hành xong về địa phương sinh sống tại bản C, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên. Năm 2002 sống chung như vợ chồng với chị Lường Thị L. Năm 2003 sống chung như vợ chồng với chị Lường Thị T; sinh năm 1981; trú tại bản K, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; bị cáo có 03 người con. Ngày 30/5/2018, bị cáo có hành vi Trộm cắp tài sản. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Là người nông dân, lẽ ra bị cáo phải cần cù chịu khó để lao động mang lại những thu nhập chính đáng phục vụ đời sống của mình. Hơn nữa, bị cáo đã một lần nhận được sự cải tạo giáo dục nhưng không lấy đó làm bài học để rèn luyện phấn đấu. Cũng chỉ vì lười lao động, muốn có tiền một cách dễ dàng, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật thực hiện hành vi phạm tội. Từ hành động của bị cáo, đã gây không ít những tâm lý hoang mang lo lắng trong nhân dân. Trong quá trình khi tổ công tác bắt quả tang bị cáo đang thực hiện hành vi phạm tội có xác định lý lịch ban đầu của bị cáo, bị cáo đã không trung thực khai gian dối để gây khó khăn cho cơ quan điều tra. Qua đó thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo. Bởi vậy Hội đồng xét xử cần đưa ra mức án thật nghiêm khắc, để cải tạo giáo dục bị cáo và cũng là cơ hội để bị cáo cai nghiện ma túy.
Theo khoản 5 Điều 173 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định; bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung bằng tiền. Tuy nhiên, xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo thuộc hộ nghèo theo quy định của Chính phủ nên không có khả năng thi hành; vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên mức hình phạt đối với bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng; Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp với tính chất mức độ hành vi của bị cáo nên cần chấp nhận.
Đối với phần bồi thường thiệt hại, do ông Hoàng Văn N đã nhận lại toàn bộ nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, không yêu cầu xem xét nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng: Đối với tài sản tạm thu giữ, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Hoàng Văn N. Việc trả lại tài sản cho bị hại là đúng theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Theo quy định tại Điều 136 BLTTHS năm 2015 và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo đủ điều kiện được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng theo quy định của Pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 332, Điều 333 BLTTHS năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử,
1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lường Văn P phạm tội: Trộm cắp tài sản.
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lường Văn L 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/5/2018.
3. Án phí: Bị cáo Lường Văn P được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 23/8/2018); bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Tuần Giáo; - Công an huyện Tuần Giáo; - Chi cục THADS huyện Tuần Giáo; - Sở tư pháp; - Bị cáo; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Lương Thị Nga |