- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP VŨNG TÀU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Baûn aùn soá: 82/2018/HNGĐ - ST Ngaøy: 24-7-2018 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM
TOØA AÙN NHAÂN DAÂN THÀNH PHỐ VUÕNG TAØU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Hồng Phúc
Các Hoäi thaåm nhaân daân: Ông Nguyễn Văn Tám
Ông Nguyễn Văn Hải
- Thö kyù phieân toøa: Bà Lê Thị Lương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 1274/2017/HNST ngày 26 tháng 12 năm 2017 về việc: “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2018/QĐXX - ST ngày 29 tháng 6 năm 2018; Quyết định hoãn phiên Tòa ngày 18-7-2018, giữa các đương söï:
- Nguyên ñôn: Ông Nguyễn Thành Phong - sinh năm:1960
Địa chỉ: 167/5 - đường Lưu Chí Hiếu, phường 10, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ( có mặt).
- Bị ñôn: Bà Vương Thị Uyển - sinh năm 1968
Địa chỉ: 469 - đường Nguyễn An Ninh, phường 9, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt đến lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình làm việc tại Tòa, ông Nguyễn Thành Phong có những yêu cầu sau:
Ông Nguyễn Thành Phong và bà Vương Thị Uyển đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hải Thịnh, huyện Hải hậu, tỉnh nam Định vào năm 1986, cuộc sống hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Quá trình sống chung ông Phong và bà Uyển có với nhau 02 người con là ; Nguyễn Thảo Ly - sinh năm 1988 và Nguyễn Thị Quỳnh Như - sinh năm 1997.
Trong thời gian đầu cuộc sống vợ chồng ông Phong, bà Uyển hạnh phúc, thời gian từ tháng 03 năm 2017 cho tới nay phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn ông Phong cho rằng bà Uyển thường sen vào công việc làm ăn của ông Phong, giữa vợ chồng ông Phong, bà Uyển từ đó thường xuyên xảy ra xung đột, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, có lần ông Phong đã cầm kéo đuổi đánh bà Uyển. Ông Phong, bà Uyển đã sống ly thân nhau từ lần ông Phong đuổi đánh bà Uyển cho đến nay.
Nay ông Phong cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với bà Vương Thị Uyển - sinh năm 1968
Về con chung: Ông Phong, bà Uyển có 02 con chung là Nguyễn Thảo Ly - sinh năm 1988 và Nguyễn Thị Quỳnh Như - sinh năm 1997, con đã trưởng thành, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông Phong không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn bà Uyển có ý kiến: Bà Uyển xác nhận điều kiện đi đến hôn nhân và có con chung như ông Phong trình bày là đúng. Còn về mâu thuẫn gia đình bà Uyển cho rằng gia đình nào cũng có mâu thuẫn , bà Uyển cho rằng mâu thuẫn như vậy là chuyện bình thường, chưa đến mức hai vợ chồng bà Uyển, ông Phong không thể hòa giải được. Bà Uyển không đồng ý với yêu cầu Tòa giải quyết cho ly hôn của ông Phong.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Uyển không có ý kiến.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán đã chấp hành và thực hiện đúng nhiệm vụ quyền hạn quy định tại điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Đối với nguyên đơn ông Nguyễn Thành Phong đã chấp hành và thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; Còn bị đơn bà Vương Thị Uyển chưa chấp hành đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Tại phiên Tòa thư ký và hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định tại điều 51, 63 BLTTDS.Quá trình xét xử tuân thủ đúng trình tự quy định tại các điều 239, 243, 248, 249, 250 và 260 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành Phong;
Về con: Đã trưởng thành không yêu cầu nên không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại Tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu. Nhận định của Tòa án:
Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp ly hôn giữa ông Nguyễn Thành Phong và bà Vương Thị Uyển. Bị đơn có hộ khẩu thường trú và hiện cư trú tại 469 -đường Nguyễn An Ninh, phường 9, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, do đó vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu; Căn cứ khoản 1 điều 28, điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn bà Vương Thị Uyển được triệu tập hợp lệ vắng mặt đến lần thứ hai không vì trở ngại khách quan hoặc sự việc bất khả kháng; Hội đồng xét xử căn cứ theo điểm b khoản 2 điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt bị đơn bà Vương Thị Uyển.
Về nội dung:
Năm 1986, ông Nguyễn Thành Phong và bà Vương Thị Uyển có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hải Thịnh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định “Nay là thị trấn Thịnh Long, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định” và chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, nên hôn nhân giữa ông Phong và bà Uyển là đúng quy định của pháp luật.
Ông Phong cho rằng cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc vì bất đồng quan điển sống về việc làm ăn kinh tế. Nguyên nhân mâu thuẫn ông Phong cho rằng do vợ chồng không có tiếng nói chung bà Uyển thường sen vào công việc làm ăn kinh tế của ông Phong từ đó dẫn đến việc bất đồng quan điểm,vợ chồng ông Phong, bà Uyển xảy ra xô xát, có lần ông Phong không làm chủ được đã cầm kéo đánh đuổi bà Uyển. Hiện ông Phong, bà Uyển đã sồng ly thân nhau từ tháng 3 năm 2017 cho đến nay.
Bà Uyển cho rằng mâu thuẫn giữa vợ chồng bà Uyển, ông Phong chưa đến mức không thể hàn gắn được. Bà Uyển không đồng ý với yêu cầu Tòa giải quyết cho ly hôn của ông Phong.
Qua việc xác minh mâu thuẫn được biết ông Phong, bà Uyển mâu thuẫn phát sinh là do về kinh tế. Vợ chồng ông Phong , bà Uyển đã ly thân nhau. Ngoài ra còn nguyên nhân mâu thuẫn do đâu khác thì người cung cấp thông tin xác minh không được rõ.
Cháu Nguyễn Thảo Ly con của ông Phong, bà Uyển cho biết: Trong cuộc sống giữa bố, mẹ của cháu Ly xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do giữa ông Phong, bà Uyển có nhiều bất đồng trong quan điểm sống do quá khác biệt, mâu thuẫn không thể hòa hợp được. Có lần ông Phong không kiềm chế được đã dọa đánh bà Uyển nhưng chưa gây ra hậu quả .
Ngày 09 - 4 -2018, Tòa án tiến hành hòa giải bà Uyển có mặt trình bày ý kiến của mình nhưng sau đó tự ý bỏ về không ký biên bản Hòa giải, thể hiện bà Uyển không tôn trong Tòa án và tự từ bỏ đi quyền, nghĩa vụ của bà Uyển trước pháp luật. Cách bà Uyển hành xử là bất cần, khác cách bà Uyển trình bày và cho rằng mâu thuẫn giữa bà Uyển, ông Phong là có thể hàn gắn được.
Ngày 18-7-2018 Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu đưa vụ án ra xét xử, bà Uyển được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do; Nay phiên Tòa được mở lại lần hai, bà Uyển đã được triệu tập hợp lệ và vắng mặt lần hai không lý do.
Nhận định của Hội đồng xét xử: Mâu thuẫn giữa vợ chồng ông Nguyễn Thành Phong và bà Vương Thị Uyển là có thật đúng như ông Phong cho biết và Tòa án đã thu thập. Do đó cuộc sống hôn nhân của ông Phong, bà Uyển đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được,chứng minh qua nhiều lần bà Uyển vắng mặt tại phiên Hòa giải và tại phiên xét xử của Tòa án. Thể hiện bị đơn bà Vương Thị Uyển không muôn Tòa án hòa giải đoàn tụ. Bà Uyển cho rằng mâu thuẫn giữa bà Uyển và ông Phong có thể hàn gắn được và không đồng ý ly hôn là không có căn cứ.
Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ căn cứ áp dụng điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành Phong; Ông Nguyễn Thành Phong được ly hôn với bà Vương Thị Uyển.
Về con chung: Ông Phong và bà Uyển có 02 người con chung là Nguyễn Thảo Ly - sinh năm 1988 và Nguyễn Thị Quỳnh Như - sinh năm 1997, đã trưởng thành do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết nên không đặt ra để xem xét.
Án phí HNST:Căn cứ điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 26/2016/UBTVQH 14, ngày 30-12-2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí: Ông Nguyễn Thành phong phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0009708 ngày 26 tháng 12 năm 2017, của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu; Ông Phong đã nộp xong án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, Điều 35,điểm b khoản 2 điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
Về hôn nhân:
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành Phong; Ông Nguyễn Thành Phong được ly hôn với bà Vương Thị Uyển.
Về con chung: Ông Phong và bà Uyển có 02 người con chung là Nguyễn Thảo Ly - sinh năm 1988 và Nguyễn Thị Quỳnh Như - sinh năm 1997, đã trưởng thành do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết nên không đặt ra để xem xét.
Án phí HNST: Ông Nguyễn Thành Phong phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0009708 ngày 26 tháng 12 năm 2017, của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu. Ông Phong đã nộp xong án phí hôn nhân sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.Đương sự vắng mặt quyền kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân Tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu; - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu; - Ủy ban nhân dân thị trấn Thịnh Long, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Hồng Phúc |