- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn."
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận chị Trần Ngọc H và anh Nguyễn Minh T là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 82/2018/HNGĐ-ST Ngày 10-7-2018 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Dương Minh Út.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hải Hưng.
Bà Trần Lệ Chi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Lụa là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
Ngày 10 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 96/2018/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2018, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Ngọc H, sinh năm 1987 (có mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1978 (vắng mặt).
Cùng cư trú tại: Ấp 4, xã N, huyện M, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 29-3-2018 cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Trần Ngọc H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Ngọc H và anh Nguyễn Minh T tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân vào tháng 10 năm 2017 (âm lịch) nhưng không có đăng ký kết hôn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, anh T thường hay uống rượu về chửi mắng chị H. Nay chị H yêu cầu được ly hôn với anh T
Về tài sản chung: Tại đơn khởi kiện, chị H yêu cầu phân chia nữ trang gia đình bên chồng cho trong ngày cưới gồm: 01 sợi dây chuyền 3,5 chỉ vàng 24k và 01 chiếc nhẫn 01 chỉ vàng 24k. Tại phiên tòa, chị H đề nghị rút lại yêu cầu phân chia toàn bộ số nữ trang nêu trên.
Về con chung, nợ người khác và người khác nợ lại: Chị H xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn đúng theo quy định pháp luật nhưng anh Nguyễn Minh T không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên xem như từ bỏ quyền của mình tại phiên tòa. Vì vậy, Tòa án căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh T.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Ngọc H và anh Nguyễn Minh T tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2017. Tuy chị H và anh T xác lập quan hệ hôn nhân trên tinh thần tự nguyện và có đủ điều kiện kết hôn theo quy định pháp luật hôn nhân và gia đình nhưng trong quá trình chung sống, đến thời điểm yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn không có đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh T không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ, chồng theo quy định tại Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình nên không được pháp luật công nhận là vợ chồng.
Về tài sản chung: Tại văn bản ngày 04-6-2018 cũng như tại piên tòa, chị H rút lại yêu cầu phân chia 01 sợi dây chuyền 3,5 chỉ vàng 24k và 01 chiếc nhẫn 01 chỉ vàng 24k. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu của chị H là trên tinh thần tự nguyện, không trái quy định pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phân chia 4,5 chỉ vàng 24k nêu trên. Sau khi ly hôn, chị H và anh T có phát sinh tranh chấp thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản sau khi ly hôn theo quy định pháp luật.
Chị H xác định trong quá trình chung sống không có con chung, không có nợ người khác và không ai nợ lại anh, chị. Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, anh T cũng không có văn bản yêu cầu các vấn đề trên nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.
Về án phí: Chị Trần Ngọc H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của chị H, theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 14 và 53 của Luật hôn nhân và gia đình;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận chị Trần Ngọc H và anh Nguyễn Minh T là vợ chồng.
- Về tài sản chung: Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của chị Trần Ngọc H về việc yêu cầu phân chia 01 sợi dây chuyền 3,5 chỉ vàng 24k và 01 chiếc nhẫn 01 chỉ vàng 24k.
Chị Trần Ngọc H và anh Nguyễn Minh T có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về phân chia tài sản sau khi ly hôn theo quy định pháp luật.
- Về án phí: Chị Trần Ngọc H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng. Ngày 29 tháng 3 năm 2018, chị H đã dự nộp tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình 300.000 đồng tại biên lai số 0011879 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau, được chuyển thu.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Chị Trần Ngọc H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Minh T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết công khai bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện U Minh; - Chi cục THADS huyện U Minh; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dương Minh Út |